ORADS US Hệ thống phân loại và xử trí các khối u buồng trứng dựa trên siêu âm

O-RADS US Risk Stratifiation and Management System:
A Consensus Guideline from the ACR Ovarian-Adnexal Reporting and Data System Committee

Radiology 2020; 294:168–185. https://doi.org/10.1148/radiol.2019191150

Tác giả: Rochelle F. Andreotti, MD • Dirk Timmerman, MD, PhD • Lori M. Strachowski, MD • Wouter Froyman, MD • Beryl R. Benacerraf, MD • Genevieve L. Bennett, MD • Tom Bourne, PhD • Douglas L. Brown, MD • Beverly G. Coleman, MD • Mary C. Frates, MD • Steven R. Goldstein, MD • Ulrike M. Hamper, MD, MBA • Mindy M. Horrow, MD • Marta Hernanz-Schulman, MD • Caroline Reinhold, MD, MSc • Stephen L. Rose, MD • Brad P. Whitcomb, MD • Wendy L. Wolfman, MD • Phyllis Glanc, MD

Người dịch: BS Mai Thị Tú Uyên, Hiệu chỉnh: BS Hà Tố Nguyên, Khoa Chẩn đoán hình ảnh, Bệnh viện Từ Dũ

Nguồn: Chi hội Siêu âm Việt Nam

Chúng ta đã quen thuộc với hệ thống phân loại các khối u ở vú (B-RADS) và tuyến giáp (T-RADS) của Học viện điện quang Hoa Kỳ (American College of Radiology). Chúng ta cũng đang sử dụng các thuật ngữ mô tả, chẩn đoán các khối u buồng trứng và đánh giá nguy cơ lành ác theo mô hình IOTA. Và O-RADS là sự kết hợp giữa cách tiếp cận dựa trên kiểu mẫu thường được sử dụng ở Bắc Mỹ và hệ thống IOTA được sử dụng rộng rãi ở Châu Âu nhằm cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán, giảm thiểu hay loại bỏ những mơ hồ trong các kết quả siêu âm các khối u buồng trứng.

Việc mô tả chính xác các đặc điểm của những khối u buồng trứng là thiết yếu cho việc tối ưu hóa trong quản lý bệnh nhân. Theo dõi hoặc xử trí ít xâm lấn phù hợp cho những sang thương mà nhiều khả năng lành tính. Ngược lại, khi nghi ngờ ác tính, bệnh nhân nên được tư vấn đến chuyên gia ung bướu phụ khoa bởi vì điều này sẽ giúp kết cục tốt hơn.

Trân trọng kính mời quí đồng nghiệp tham khảo bài dịch Tiếng Việt và bài nguyên bản Tiếng Anh về chủ đề này.

Chi hội Siêu âm Việt Nam

O-RADS, HỆ THỐNG PHÂN LOẠI VÀ XỬ TRÍ CÁC KHỐI U BUỒNG TRỨNG DỰA TRÊN SIÊU ÂM: Đồng thuận hướng dẫn của ACR Ovarian-Adnexal Reporting và Data System Committee

Giới thiệu

Hệ thống phân tầng nguy cơ, quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm buồng trứng-phần phụ (O-RADS) được thiết kế nhằm cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán, để giảm thiểu và xóa bỏ những mơ hồ trong các kết quả siêu âm nhằm tạo ra độ chính xác cao trong đánh giá nguy cơ ác tính của các khối ở buồng trứng và phần phụ và cung cấp chiến lược quản lý cho mỗi nhóm nguy cơ. Hệ thống này được phát triển bởi hội đồng quốc tế đa ngành, được bảo đảm bởi ACR và áp dụng công cụ báo cáo chuẩn cho siêu âm (US) dựa trên bảng từ vựng xuất bản năm 2018 của nhóm O-RADS US. Đối với phân tầng nguy cơ, O-RADS US chia thành 6 nhóm (ORADS 0-5), từ bình thường đến nguy cơ ác tính cao nhất. Hệ thống duy nhất này là sự kết hợp giữa cách tiếp cận dựa trên kiểu mẫu thường được sử dụng ở Bắc Mỹ và hệ thống được sử dụng rộng rãi dựa trên kiểu mẫu của Châu Âu (IOTA) – một mô hình ước đoán nguy cơ đã được nghiên cứu tiến cứu thành công và có giá trị. Kiểu tiếp cận dựa trên một phân nhóm của những yếu tố mô tả ước đoán quan trọng nhất trong bảng từ vựng theo một nghiên cứu hồi cứu từ dữ liệu các nghiên cứu tiến cứu của IOTA giai đoạn 1 đến 3 và các nghiên cứu ủng hộ khác giúp ích trong phân loại các cách quản lý khác nhau trong hầu hết các sang thương gần như lành tính. Đối với nhóm đồng thuận O-RADS, các hướng dẫn trong việc quản lý các nhóm nguy cơ khác nhau được đề nghị. Cả hai hệ thống đã được phân tầng để cùng đạt được một phân loại nguy cơ như nhau và chiến lược quản lý bất kể ban đầu được phân loại như thế nào. Tại thời điểm này, O-RADS US là hệ thống phân loại duy nhất có đầy đủ tất cả các nhóm nguy cơ và cách quản lý cho từng nhóm.
© RSNA 2019

Chữ viết tắt

  • ADNEX: Assessment of Different Neoplasias in the Adnéa,
  • CA-125= cancer antigen 125,
  • IOTA: International Ovarian Tumor Analysis,
  • O-RADS: OvarianAdnexal Reporting and Data System

Tóm lược

  • Hệ thống phân tầng nguy cơ, quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm u buồng trứng-phần phụ (O-RADS) dựa trên các thuật ngữ chuẩn, kết hợp chặt chẽ tất cả các tầng nguy cơ và đề nghị một chiến lược quản lý cho mỗi tầng nguy cơ.

Kết quả then chốt

  • Hệ thống phân tầng nguy cơ, 3 quản lý dữ liệu và báo cáo hình ảnh siêu âm buồng trứng-phần phụ (O-RADS) đề xuất một phương tiện để cung cấp cách đọc hình ảnh nhất quán và giảm thiểu những mơ hồ trong các kết quả siêu âm cho nguy cơ ác tính.
  • Những khuyến cáo này có chức năng hướng dẫn trong việc fquản lý nhóm bệnh nhân có sang thương phần phụ với nguy cơ trung bình mà không có triệu chứng cấp. Quản lý trường hợp cá nhân có thể thay đổi dựa trên các quyết định của chuyên gia, bất chấp khuyến cáo của O-RADS.
  • Các hướng dẫn bao gồm một bảng từ vựng cô đọng chỉ chứa những mô tả cần có với mục đích làm cho dễ dàng và hiệu quả hơn trong việc việc ứng dụng các thuật ngữ trong hệ thống phân tầng nguy cơ.

Việc mô tả chính xác các đặc điểm của những khối u buồng trứng và phần phụ khác là thiết yếu cho việc tối ưu hóa trong quản lý bệnh nhân. Theo dõi hoặc xử trí ít xâm lấn phù hợp cho những sang thương mà nhiều khả năng lành tính. Ngược lại, khi nghi ngờ ác tính, bệnh nhân nên được tư vấn đến chuyên gia ung bướu phụ khoa bởi vì điều này sẽ giúp kết cục tốt hơn (1-3). Mục đích cuối cùng là cần đạt được kết cục trong điều trị ung thư buồng trứng tốt nhất trong khi giảm thiểu tối đa các can thiệp không cần thiết ở những bệnh nhân có nguy cơ ác tính thấp. Cần xem xét để giảm thiểu biến chứng liên quan phẫu thuật cũng như duy trì nguồn nội tiết cho những bệnh nhân có nguy cơ ác tính thấp. Một nghiên cứu gần đây (4) ở những bệnh nhân có các khối u không triệu chứng được phân loại lành tính trên siêu âm ủng hộ việc theo dõi bệnh nhân hơn là can thiệp nhằm giảm biến chứng liên quan phẫu thuật cũng như chi phí chăm sóc y tế. Một báo cáo đồng thuận bởi các chuyên gia đa ngành trong quản lý các khối phần phụ xuất bản năm 2017 (5) cũng kết luận rằng có thể tránh các phẫu thuật đối với những sang thương lành tính nhờ việc cải thiện trong đánh giá chúng trước mổ.

Những nghiên cứu được xuất bản, cũng như đồng thuận của các chuyên gia, ủng hộ việc sử dụng các kiểu nhận diện sang thương bởi người siêu âm có kinh nghiệm là phương cách chính xác nhất trong phân biệt những sang thương lành và ác (6-10). Tuy nhiên, mức độ kinh nghiệm của những người làm siêu âm và đọc kết quả rất khác nhau (5). Đây là lý do cần cải thiện việc phân tầng nguy cơ bằng việc xây dựng những thuật toán đánh giá nguy cơ chuẩn và dựa trên chứng cứ..

Hiện ACOG cũng khuyến khích cần sử dụng siêu âm nhiều hơn, chi tiết hơn khi khảo sát đánh giá các tính chất của khối U buồng trứng. Cần sự phối hợp chặt chẻ nếu kết quả nguy cơ cao dựa trên hệ thống phân loại nguy cơ chính thống như của nhóm IOTA. Nhóm IOTA vừa mới phát triển những thuật ngữ và các định nghĩa dựa trên chứng cứ (12) được sử dụng trong hệ thống phân loại ‘luật đơn giản’ và mô hình ADNEX để phân biệt các khối phần phụ lành và ác (13-15). Luật đơn giản không thể phân loại tất cả các khối phần phụ là lành hoặc ác. Nên một phương pháp chẩn đoán khác (như đánh giá bởi một chuyên gia siêu âm) cần được thực hiện để phân loại các khối không phân loại được trong khoảng 20% bệnh nhân, đó là giới hạn của luật này. Tuy nhiên, 10 đặc điểm siêu âm ở quy luật này hiện được hợp nhất trong một mô hình toán học để tính toán mức độ khả dĩ ác tính (14). Mô hình toán học được ưa chuộng hơn của nhóm IOTA là mô hình ADNEX (15), không chỉ tính toán mức độ khả dĩ ác hay lành của một khối phần phụ mà còn tính độ khả dĩ của một khối là u giáp biên ác, ung thư xâm lấn nguyên phát giai đoạn I, ung thư xâm lấn nguyên phát giai đoạn II-IV, hoặc một khối di căn buồng trứng từ một u nguyên phát khác. Mặc dù giá trị tiên đoán của những luật và mô hình này cao (và có giá trị bên ngoài và được sử dụng phổ biến ở Châu Âu), mức độ chấp nhận chúng bị giới hạn trong thực hành ở Hoa Kỳ và Canada. Điều này có thể được lý giải do trường phái Mỹ thích các kiểu nhận diện bởi người làm hơn là các mô hình tính toán (ADNEX), cũng như không có hướng dẫn chi tiết trong việc đánh giá nhiều sang thương mà hầu như lành.

Những hệ thống mô tả đặc điểm và quản lý khối buồng trứng khác cũng được đề nghị, bao gồm tuyên bố đồng thuận của hội siêu âm SRU Society of Radiologists in Ultrasound (6); chỉ số kiểu hình của đại học Kentucky (16-18); và hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh phụ khoa, GI-RADS (19). Tuyên bố đồng thuận của hội siêu âm (SRU), phổ biến ở Bắc Mỹ, hữu ích trong việc quyết định sang thương dạng nang nào đòi hỏi theo dõi, cần thêm phương tiện hình ảnh khác, hoặc phẫu thuật. Tuy nhiên, tuyên bố này không bao gồm các thuật ngữ và định nghĩa chuẩn và không khuyến cáo trong việc quản lý các sang thương nguy cơ cao. GI-RADS cũng không cung cấp tiêu chí khách quan cho tất cả các sang thương. Chỉ số kiểu hình bởi nhóm đại học Kentucky định nghĩa những thuật ngữ kiểu hình khách quan mà khi kết hợp với thể tích khối u, ước đoán tốt cho những khối u buồng trứng ác tính từ dân số tầm soát ung thư buồng trứng, nhưng nó chưa được kiểm tra giá trị bên ngoài và chưa được chấp nhận rộng rãi. Đó là lí do cần một công cụ báo cáo được sử dụng rộng khắp dựa trên các thuật ngữ phổ biến, cũng như hệ thống quản lý cho tất cả các tầng nguy cơ.

Bảng từ vựng hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh buồng trứng – phần phụ (ORADS) cho siêu âm (20) được xuất bản năm 2018, cung cấp một hệ thống từ vựng chuẩn bao gồm tất cả các mô tả và định nghĩa thích hợp của các đặc điểm siêu âm của buồng trứng bình thường và các sang thương buồng trứng hoặc phần phụ khác. Hệ thống từ vựng dựa trên hội đồng thuận. Xem xét những chứng cứ ủng hộ cho việc sử dụng các thuật ngữ khác nhau trong y văn đối với việc phân loại khối lành hay ác, các thành viên trong hội đồng đồng ý các thuật ngữ tương tự được sử dụng trong mô hình IOTA. Chúng tôi kiểm tra các mô tả được sử dụng trong hệ thống từ vựng O-RADS từ bộ dữ liệu lớn của các nghiên cứu IOTA giai đoạn 1-3 để phân nhóm nguy cơ ác. Những thuật ngữ hữu ích trong việc phân loại nguy cơ ác được đặt trong bản từ vựng cô đọng để phân tầng nguy cơ (Hình 1). Cuối cùng, với việc sử dụng các nghiên cứu dựa trên chứng cứ khác trong y văn để đề xuất hướng dẫn chiến lược quản lý cho các nhóm sang thương bao gồm các sang thương lành như nang đơn giản, nang xuất huyết, nang bì, u lạc nội mạc, nang cạnh buồng trứng, nang vùi phúc mạc, ứ dịch tai vòi, và nhóm O-RADS, chúng tôi đề xuất hướng dẫn cho việc quản lý các nhóm nguy cơ. Hướng dẫn được đề nghị là cách tiếp cận mang tính cộng tác, đa ngành, quốc tế cho cả Châu Âu và Bắc Mỹ. Hướng dẫn bao gồm tất cả các nhóm nguy cơ với chiến lược quản lý cái mà chưa được đề cập trong bất cứ hệ thống nào trước đây.

Hình 1: Hình ảnh cho thấy những từ khóa thuật ngữ O-RADS trong đánh giá nguy cơ. IOTA= International ovarian tumor analysis.

Phương pháp phân tầng nguy cơ

Dựa trên ý kiến chuyên gia, nhóm O-RADS US định nghĩa 6 nhóm nguy cơ.

  • O-RADS 0, đánh giá chưa đầy đủ;
  • O-RADS 1, nhóm chức năng (buồng trứng bình thường tuổi sinh sản);
  • O-RADS 2, nhóm hầu như chắc chắn lành (<1% nguy cơ ác);
  • O-RADS 3, nguy cơ ác thấp (1% đến 10%);
  • O-RADS 4, nguy cơ ác trung gian (10% đến 50%);
  • O-RADS 5, nguy cơ ác cao (≥ 50%).

Chúng tôi thực hiện phân tích hồi cứu bộ dữ liệu tiến cứu từ IOTA giai đoạn 1-3 để phân loại nguy cơ ác. Trong những nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đa trung tâm này, các bệnh nhân với sang thương phần phụ được tập hợp từ 24 trung tâm ở 10 quốc gia từ năm 1999 đến 2012 như sau: giai đoạn 1 (21) giữa năm 1999 đến 2002, giai đoạn 1b (22) giữa 2002 và 2005, giai đoạn 2 (23) giữa 2005 và 2007, và giai đoạn 3 (24) giữa 2009 và 2012. Tất cả các bệnh nhân được thực hiện khảo sát siêu âm chuẩn sử dụng các thuật ngữ và định nghĩa của IOTA (12) và được phẫu thuật bởi nhà lâm sàng. Trong tất cả 6169 bệnh nhân được ghi nhận trong bộ dữ liệu từ các giai đoạn 1, 1b, 2, và 3, chúng tôi loại 255 bệnh nhân (4.1%) (15). Tiêu chuẩn chọn vào và loại trừ chi tiết cũng như việc thu thập dữ liệu được xuất bản trong các nghiên cứu gốc (15,21-24). Thêm nữa, 9 bệnh nhân được loại ra do người khảo sát siêu âm không mô tả cụ thể loại u. Kết quả cuối cùng có 5905 bệnh nhân đại diện cho bộ dữ liệu lớn nhất và kết quả mô học được sử dụng làm tiêu chuẩn tham chiếu (15).

Dựa vào ý kiến chuyên gia của hội đồng, những đặc điểm của bảng được kết hợp để đại diện cho các nhóm u tương quan lâm sàng và được đặc vào các nhóm nguy cơ khác nhau dựa trên tỉ lệ hiện mắc ác tính tương ứng được tìm thấy ở bộ dữ liệu IOTA (Bảng). Những nhóm thuật ngữ này kết hợp với các mô tả có thể được sử dụng để phân nhóm một số lớn các khối buồng trứng và phần phụ trên siêu âm. Phân loại này bao gồm luôn cách quản lý dựa trên sự đồng thuận của các nhà phụ khoa, ung thư phụ khoa, và các bác sĩ chẩn đoán hình ảnh trong nhóm O-RADS tạo ra nền tảng cho hệ thống phân loại O-RADS siêu âm (Hình 2,3).

Bảng: Dữ liệu IOTA giai đoạn 1-3 được sử dụng để định nghĩa phân loại O-RADS

 

Hình 2: Hình cho thấy hệ thống quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS US. * = Ít nhất theo dõi 1 năm cho thấy không đổi hoặc giảm kích thước được khuyến cáo xem xét theo dõi hàng năm cho đến 5 năm, nếu ổn định. Tuy nhiên, hiện tại chưa đủ chứng cứ cho thời gian theo dõi cụ thể. ** = Hiện diện báng bụng với nhóm sang thương 1-2, cần xem xét ung thư ác tính từ cơ quan khác hoặc nguyên nhân báng bụng không ác tính. CS = thang màu, IOTA = nhóm phân tích u buồng trứng quốc tế, N/A = not applicable.

Hình 3: Hình cho thấy hệ thống quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS cho những sang thương lành kinh điển và những mô tả liên quan (O-RADS 2). * = Hiện tại có ít chứng cứ về thời gian theo dõi. Chứng cứ ủng hộ tăng nguy cơ ác tính ở u lạc nội mạc sau mãn kinh.

Để phân nhóm một sang thương cụ thể, có hai chiến lược bổ sung nhau. Một là có thể áp dụng những mô tả SA để khảo sát sang thương, nhận diện sang thương bởi chuyên gia siêu âm được xem là phương pháp chính xác nhất trong phân biệt sang thương lành và ác được thể hiện trong bảng từ vựng O-RADS US. Cách khác, có thể ước đoán nguy cơ bằng cách sử dụng mô hình ADNEX IOTA (Hình 4), một mô hình toán học gồm 3 biến lâm sàng (tuổi bệnh nhân, trung tâm ung thư hoặc không, và CA – 125) và 6 biến US (Hình 5). Kết quả từ công thức hồi quy logistic có thể được tính toán miễn phí tại https:// www.iotagroup.org/adnexmodel/ hoặc https://www.evidencio.com/models/show/946) trên smartphones, hoặc tích hợp vào hệ thống siêu âm. Mô hình ADNEX đã được kiểm định giá trị bên ngoài thành công (25-27), bao gồm cả những người siêu âm ít kinh nghiệm (26).

Hình 4: Hình cho thấy sự sát nhập mô hình ADNEX vào hệ thống O-RADS

 

Hình 5: Hình cho thấy đặc điểm US được sử dụng trong khảo sát mô hình ADNEX.

Tóm tắt chiến lược quản lý và phân tầng nguy cơ O-RADS của ACR

Quan điểm chủ đạo

1. Các khuyến cáo trong xử trí các khối u buồng trứng và phần phụ nên được xem là có chức năng hướng dẫn hơn là bắt buộc. Một số trường hợp cá biệt, cách xử trí sẽ được thay đổi theo ý kiến đánh giá của chuyên gia, bất chấp khuyến cáo O-RADS siêu âm là gì.

2. Hệ thống xử trí được dựa trên các bệnh nhân có nguy cơ bệnh lý mức độ trung bình, không có những triệu chứng cấp tính và không có yếu tố nguy cơ đặc biệt cho ung thư buồng trứng, như tiền sử gia đình nổi bật có ung thư buồng trứng hoặc đột biến gen BRCA. Nếu các yếu tố này hiện diện, xử trí có thể khác.

3. Sự tham gia của các chuyên gia siêu âm, là người thực hành siêu âm chuyên đánh giá các sang thương phần phụ, được thêm vào hệ thống O-RADS (5). Tuy nhiên, thời điểm hiện tại, không có các tiêu chuẩn yêu cầu hoặc hướng dẫn nào để định nghĩa một chuyên gia như vậy.

4. Mỗi bệnh nhân sẽ được phân nhóm là trong độ tuổi sinh sản hoặc mãn kinh, nhóm mãn kinh được định nghĩa là nhóm không có kinh trong hơn 1 năm.

5. Kích thước sang thương, một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá nguy cơ, đường kính nên được đo ở một mặt phẳng bất kì mà có đường kính sang thương lớn nhất.

6. O-RADS chỉ ứng dụng cho những sang thương liên quan buồng trứng và vòi trứng. Nếu sang thương ở vùng chậu chưa xác định nhưng nghi ngờ từ buồng trứng hoặc tai vòi, O-RADS vẫn có thể được áp dụng. Nếu sang thương đã được xác định không thuộc buồng trứng và tai vòi, hệ thống O-RADS chỉ phù hợp trong trường hợp nang cạnh buồng trứng hoặc nang vùi phúc mạc và, nếu khác, không áp dụng.

7. Khuyến cáo dựa vào siêu âm ngã âm đạo, tuy nhiên cũng có thể sử dụng đầu dò ngã bụng hoặc ngã trực tràng khi cần.

8. Trong trường hợp nhiều sang thương hoặc hai bên, mỗi sang thương nên được mô tả riêng, và xử trí nên dựa vào sang thương có thang điểm O-RADS cao nhất.

Sự phân tầng nguy cơ được chia thành 6 nhóm cơ bản (O-RADS 0-5), với nhóm nguy cơ được phát triển bởi hội đồng dựa vào dữ liệu IOTA được mô tả ở phần “phương pháp phân tầng nguy cơ”. Các mục này được mô tả tiếp theo sau.

Các nhóm O-RADS

O-RADS 0: đánh giá không đầy đủ do các yếu tố kỹ thuật như hơi ruột, sang thương kích thước lớn, vị trí của phần phụ, hoặc không thể chịu được siêu âm ngã âm đạo (Hình 2,3).

O-RADS 1: nhóm sang thương sinh lý liên quan đến độ tuổi sinh sản, bao gồm nang noãn và nang hoàng thể, được định nghĩa ở Hình 1 (cũng có thể thấy ở Hình 6,7). Để tránh hiểu lầm, khuyến cáo kết quả siêu âm nên mô tả là nang noãn hay nang hoàng thể hơn là chỉ mô tả là nang. Mặc dù được phân nhóm O-RADS 1 (buồng trứng bình thường), vài bệnh nhân, khi thấy thuật ngữ nang trong kết quả, có thể khó hiểu rằng nó không có bất thường.

Hình 6: Hình cho thấy nhóm O-RADS 1, buồng trứng bình thường

 

Hình 7: Hình ảnh cho thấy nang hoàng thể điển hình. A, hoàng thể có siêu âm Doppler màu và không Doppler cho thấy thành phần nang trung tâm (dấu sao) với thành dày trơn láng, vô mạch bên trong, và mạch máu ở ngoại vi (mũi tên). B, nang hoàng thể có thành phần trung tâm, thành dày, và bờ răng cưa bên trong (mũi tên). C, Nang thành dày trống âm (dấu sao) với nhiều mạch máu ngoại vi (mũi tên). D, Doppler năng lượng cho thấy mạch máu ngoại vi (mũi tên) trong nang này (dấu sao) với cục máu đông (đầu mũi tên). E, Nang hoàng thể với vùng phản âm kém (dấu sao) mà không có thành phần nang trung tâm nhưng có mạch máu ngoại vi (mũi tên). F, Hai nang hoàng thể bởi hai vùng phản âm kém (dấu sao) với mạch máu ngoại vi (mũi tên).

O-RADS 2: nhóm gần như chắc chắn lành (<1% nguy cơ ác), gồm phần lớn các nang đơn thùy dưới 10 cm (Hình 8). Nhóm này bao gồm nang đơn giản, nang đơn thùy loại không đơn giản (có định nghĩa ở bảng) thành trơn láng, và các nang được mô tả như những sang thương lành kinh điển mà có đường kính lớn nhất dưới 1 0 cm (Hình 9). Những sang thương lành kinh điển là những sang thương có thể được chẩn đoán chính xác khi có ít nhất một đặc điểm nhận diện đặc hiệu theo O-RADS US mà không có đặc điểm đáng nghi ngờ nào khác. Chúng bao gồm nang xuất huyết điển hình (28,29) (Hình 10), nang bì (30-33) (Hình 11), u lạc nội mạc (29,34-37) (Hình 12), nang cạnh buồng trứng (37), nang vùi phúc mạc (37,38), và ứ dịch tai vòi (39) (Hình 9). Khi có thể, chẩn đoán sang thương lành kinh điển sử dụng các mô tả đặc trưng liên quan của chúng nên luôn ưu tiên hơn việc dùng các – mô tả sử dụng các đặc điểm chung cho mọi khối u-. Mặc dù thang màu được mô tả ở Hình 1 (bảng từ vựng tắt) không bao gồm trong đánh giá sang thương trong nhóm O-RADS 2, nó là một phần quan trọng trong đánh giá sang thương ở nhóm nguy cơ cao hơn. Một bảng định nghĩa hoàn chỉnh các thang điểm màu có kèm hình minh minh họa cho mỗi một điểm được thể hiện ở phần “mạch máu” trong hình 1.

Hình 8: Hình cho thấy nhóm O-RADS 2, hầu như chắc chắn lành tính.

 

Hình 9: Hình cho thấy nhóm O-RADS 2, sang thương lành tính kinh điển và các mô tả liên quan.

 

Hình 10: Hình cho thấy nang xuất huyết điển hình. A, Nang buồng trứng xuất huyết với cục máu đông co kéo bờ lõm (mũi tên) và kiểu dạng lưới bên trong (dấu sao). B, Nang xuất huyết với kiểu lưới (dấu sao) khắp nang. C, Kiểu lưới (dấu sao) với những đường hồi âm không liên tục và giai đoạn co cục máu sớm ở ngoại vi (mũi tên). D, Co cục máu với kiểu lưới (dấu sao) và bờ lõm (mũi tên). Dòng Doppler ở mô bao quanh; tuy nhiên, không thấy trong cục máu. E, kiểu lưới (dấu sao), bờ thẳng và lõm (mũi tên) và không có dòng chảy ở Doppler năng lượng phân biệt cục máu với mô đặc. F, nang xuất huyết vô mạch với kiểu lưới (dấu sao) và bờ lõm của cục máu đông (mũi tên).

 

Hình 11: Hình cho thấy các nang bì điển hình. A, Nang bì với thành phần phản âm dày (dấu sao) với bóng lưng phía sau (mũi tên) và các đường và nốt tăng âm (đầu mũi tên). B, Các đường, nốt và thành phần tăng âm ở nang bì khác. C, siêu âm ngã bụng của nang bì cho thấy mức dịch dịch (mũi tên đen) với thành phần mỡ trôi nổi bên trong. Thành phần tăng âm (dấu sao) cho bóng lưng (mũi tên) và những đường tăng âm nhẹ và các đốm (đầu mũi tên) cũng thấy được. D, Sang thương dạng nang với chủ yếu là các đường và chấm tăng âm (đầu mũi tên), tương ứng với thành phần tóc trong nang bì. E, Thành phần tăng âm (dấu sao) với bóng lưng (mũi tên) trong nang bì có hồi âm bên trong. F, Những cấu trúc hình cầu trôi phản âm (dấu sao) không thường gặp nhưng là điểm đặc trưng bệnh học của nang bì.

 

Hình 12: Hình cho thấy nang lạc nội mạc điển hình. A, Đặc điểm thường gặp của nang lạc nội mạc là hình ảnh kính mờ hoặc phản âm kém bên trong (dấu sao); nhu mô buồng trứng bao quanh (mũi tên). B, Đặc điểm tương tự phản âm kém đồng nhất hoặc kính mờ (dấu sao) với mô buồng trứng bao quanh (mũi tên) và tăng âm phía sau (đầu mũi tên). C, không có tín hiệu Doppler bên trong; phản âm đồng nhất (dấu sao) và tăng âm sau (đầu mũi tên). D, Nang lạc nội mạc đa thùy với phản âm kém đồng nhất (dấu sao) trong mỗi khoang; có thể có tín hiệu Doppler ở vách (mũi tên). E, Thỉnh thoảng, các chấm tăng âm ngoại vi có thể gặp ở nang lạc nội mạc; tuy nhiên, phản âm kém đồng nhất (dấu sao) là đặc điểm không đặc hiệu. F, Mặc dù bóng lưng điển hình không liên quan với nốt tăng âm ngoại vi (mũi tên) bao quanh nang lạc nội mạc (dấu sao), ảnh giả có thể thấy trên hình ảnh Doppler (đầu mũi tên).

O-RADS 3: nhóm nguy cơ thấp (1% đến < 10% nguy cơ ác), bao gồm các sang thương trong phân nhóm gần như chắc chắn lành nhưng kích thước lớn hơn, và các sang thương khác biểu thị nguy cơ ác tính có chút tăng nhẹ (Hình 13). Các sang thương này bao gồm nang đơn giản, nang đơn thùy trơn láng không đơn giản, và các sang thương có đặc điểm mô tả lành kinh điển mà có đường kính lớn hơn hoặc bằng 10 cm. Điểm cắt 10 cm được xem xét là mốc tăng nguy cơ ác dựa vào bộ dữ liệu IOTA 1 -3, và cũng được ghi nhận trong y văn (4,6,7,11,42,46). Cũng bao gồm trong nhóm này là các nang đơn thùy với thành không đều, nang đa thùy dưới 10 cm không có thành phần đặc và thang điểm dưới 4 (Hình 1), và sang thương đặc hoặc dạng đặc không tăng sinh mạch với bờ ngoài trơn láng bất kể kích thước. Sự hiện diện dòng Doppler giúp chẩn đoán xác định thành phần đặc nhưng Doppler (-) thì thông tin bị yếu đi, và sang thương nên được xem là giống đặc như được mô tả ở bảng từ vựng tắt (Hình 1). Bắt đầu từ nhóm O-RADS 3, thang màu có vai trò trong hệ thống phân tầng nguy cơ. Các mô tả O-RADS 3 được liệt kê trong hình 2.

Hình 13: Hình cho thấy nhóm O-RADS 3, nguy cơ ác tính thấp

O-RADS 4 đề cập đến nhóm nguy cơ ác tính trung gian (10% đến <50% nguy cơ ác) bao gồm các mô tả có mức ước đoán ác tính cao (Hình 14). Nhóm gồm các nang đa thùy ≥ 10 cm, hoặc có thành trong hoặc vách không đều (phần đặc< 3mm chiều cao), nang đơn thùy và đa thùy bất kể kích thước có thành phần đặc hoặc CS 4, và sang thương đặc bờ trơn láng (>80% đặc) với CS 2-3. Cần chú ý rằng nhú là một dạng của thành phần đặc với chiều cao từ 3mm trở lên xuất phát từ thành nang hoặc vách và nhô vào trong nang. Các mô tả O-RADS 4 được liệt kê trong Hình 2.

Hình 14: Hình cho thấy nhóm O-RADS 4, nguy cơ ác tính trung gian

O-RADS 5, nhóm nguy cơ ác tính cao (≥ 50% ác tính), bao gồm các mô tả mà độ ước đoán ác tính cao như sang thương đặc bờ không đều và nang đa thùy với thành phần đặc và có CS cao (Hình 15). Sự hiện diện của báng bụng và/hoặc nốt phúc mạc được xem là O-RADS 5 trừ khi có báng bụng liên quan với nang chức năng hoặc hầu như sang thương chắc chắn lành (xem O-RADS 2), khi đó các nguyên nhân khác gây báng bụng cần được xem xét. Các mô tả O-RADS 5 được liệt kê trong Hình 2.

Hình 15: Hình cho thấy nhóm O-RADS 4, nguy cơ ác tính cao

Xử trí

Hệ thống phân loại O-RADS US giúp nhà chăm sóc sức khỏe trong quyết định những sang thương nào không cần theo dõi hoặc theo dõi bảo tồn, thường với sự giúp đỡ của chuyên gia SA hoặc thực hiện MRI để tối ưu trong việc xác định tính chất (10,40) với những sang thương buộc phải tư vấn bởi BS phụ khoa hoặc ung bướu phụ khoa (41). Sự đồng thuận chung của các thành viên trong hội đồng trong việc đưa ra các chiến lược xử trí cho mỗi nhóm dựa trên cơ sở y văn và ý kiến chuyên gia thông qua các cuộc hội đàm và trao đổi qua email (Hình 2). Các mô tả chi tiết bên dưới.

O-RADS 0, đánh giá không đầy đủ

Nói chung, lặp lại US được khuyến cáo, mặc dù một kỹ thuật khác như MRI có thể là lựa chọn thích hợp trong một số trường hợp nhất định

O-RADS 1, buồng trứng bình thường

Không cần theo dõi hoặc lặp lại các chẩn đoán hình ảnh.

O-RADS 2, hầu như chắc chắn lành tính (<1% nguy cơ ác)

Nói chung, không cần theo dõi hoặc can thiệp đối với các sang thương hầu như chắc chắn lành. Siêu âm bởi chuyên gia hoặc MRI, cũng như quản lý bởi nhà phụ khoa, có thể được khuyến cáo trong một vài nhóm bệnh nhân.

Nang đơn giản

Nang đơn giản là tập con của nang đơn thùy với thành mỏng, trơn láng, tăng âm sau, và không có thành phần bên trong nang (vì thế nó trống âm), như được đề cập trong bảng từ vựng O-RADS (20). Mặc dù nang đơn giản không phải là một nhóm riêng biệt trong dữ liệu IOTA, trong y văn ủng hộ đây là nhóm lành tính. Nghiên cứu gần đây của Smith-Bindman và cs (42) trên 72093 phụ nữ được thực hiện siêu âm từ năm 1997 đến 2008, không có nang đơn giản nào được chẩn đoán là ung thư ở nhóm dưới 50 tuổi (0 / 12957 nang), và chỉ có một nang đơn giản được chẩn đoán là ác ở phụ nữ trên 50 tuổi (1/2349 nang) sau 3 năm. Một nghiên cứu trên một nhóm đối tượng ở độ tuổi mãn kinh tầm soát ung thư buồng trứng cũng cho kết quả tương tự (43-47). Một phân tích gộp gần đây của Parazzini và cs (48) ở những nang đơn thùy được phẫu thuật, cho thấy nguy cơ ác rất thấp ở nhóm trước mãn kinh có sang thương phản âm trống 0,5% (3/657) với sau mãn kinh 1,5% (7/469). Giới hạn của nghiên cứu gộp này là tính không đồng nhất trong các nghiên cứu. Dựa trên dữ liệu ủng hộ khả năng ác tính thấp của nang đơn giản, ACOG khuyến cáo “nang đơn giản đường kính tối đa 10 cm trên siêu âm ngã âm đạo được thực hiện bởi người làm có kinh nghiệm nhiều khả năng là lành tính và có thể được theo dõi lặp lại hình ảnh mà không cần phẫu thuật, ngay cả ở nhóm sau mãn kinh” (11).

Hội đồng đã đồng ý rằng không cần xử trí gì thêm đối với các nang đơn giản có đường kính nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm ở bệnh nhân trước mãn kinh, và những nang nhỏ hơn hoặc bằng 3 cm nên được xem là sinh lý (phù hợp với sinh lý bình thường, tức là nang noãn). Do thách thức của việc thực hiện một nghiên cứu chất lượng ở các nang lớn hơn và lưu ý rằng phần lớn các nang này là chức năng, hội đồng đã đồng ý rằng bệnh nhân trước mãn kinh nên khuyến cáo theo dõi trong 8 -12 tuần đối với các nang lớn hơn 5 cm nhưng dưới 10 cm để xác định tính chất chức năng của nó hoặc đánh giá lại các bất thường của thành nang (dễ bị bỏ sót hơn trong các nang lớn, gần 10 cm). Nói chung, pha tăng sinh chu kì kinh là thời gian tối ưu để đánh giá lại vì các nang chức năng lúc này đã thoái lui. Nếu nang vẫn tồn tại hoặc lớn thêm, nên được quản lý bởi bác sĩ phụ khoa. Đôi khi, các nang lớn hơn có thể đánh giá không đầy đủ qua siêu âm ngã âm đạo, và trong những trường hợp này, điều quan trọng là phải thực hiện đầu dò ngã bụng hoặc chỉ ra đây là trường hợp đánh giá không đầy đủ do kích thước, vị trí hoặc cả hai, do đó trở lại nhóm 0.

Bởi vì dữ liệu xác nhận hiếm gặp u ác tính trong nhóm nang đơn giản sau mãn kinh (42-47), không cần xử trí gì hơn cho các nang nhỏ hơn 3 cm. Đối với các nang lớn hơn 3 cm nhưng dưới 10 cm, nên theo dõi ít nhất 1 năm để cho thấy sự ổn định hoặc giảm kích thước được khuyến cáo và xem xét theo dõi hàng năm trong 5 năm, nếu ổn định (47). Nếu nang lớn, thì nên được quản lý bởi bác sĩ phụ khoa. Tuy nhiên, hiện tại có rất ít bằng chứng để xác định thời lượng bao lâu hoặc khoảng cách giữa các lần theo dõi.

Những sang thương lành tính kinh điển và mô tả liên quan

Một lần nữa, khi gặp một số đặc điểm lành tính cổ điển được trích dẫn trong y văn, chúng ta nên cho luôn một chẩn đoán cụ thể. Cố gắng sử dụng các mô tả khác, chung chung hơn có thể dẫn đến chẩn đoán không chính xác và xử trí không phù hợp. Nếu những sang thương gần như chắc chắn lành tính này không điển hình, thì một số có thể rơi vào nhóm nguy cơ cần phải xác định thêm bằng cách giới thiệu đến một chuyên gia SA hoặc bằng cách thực hiện MRI. Tuy nhiên, thông qua quá trình này, sẽ cho ra chẩn đoán chính xác và những bệnh nhân này than phiền bị điều trị quá mức. Một ví dụ là ứ dịch tai vòi có thể hiện diện vách ngăn hoàn toàn hoặc nếp gấp vòi trứng bị đọc nhầm là thành phần đặc (xem Hình 3).

Nang xuất huyết – Nang xuất huyết điển hình ở nhóm tuổi trước mãn kinh mà nhỏ hơn hoặc bằng 5 cm không cần quản lý. Khi lớn hơn 5 cm nhưng dưới 10 cm, nên theo dõi trong 8 -12 tuần. Nếu nang vẫn tồn tại hoặc lớn lên, thì nên giới thiệu đến chuyên gia SA hoặc nhà phụ khoa, hoặc MRI. Nang xuất huyết không xuất hiện ở phụ nữ mãn kinh. Do đó, khi gặp nang xuất huyết điển hình có kích thước dưới 10 cm ở nhóm tuổi sau mãn kinh, cần đánh giá thêm bởi chuyên gia SA, giới thiệu đến bác sĩ phụ khoa hoặc thực hiện MRI.

Nang bì và nang lạc nội mạc tử cung – Nang bì và nang lạc nội mạc điển hình dưới 10 cm được quản lý tương tự. Ở bệnh nhân trước mãn kinh, việc theo dõi lần đầu tối ưu là khoảng 8 -12 tuần sau, phụ thuộc vào mức độ tự tin trong chẩn đoán và, nếu không được phẫu thuật cắt bỏ, siêu âm hàng năm cần xem xét. Những bệnh nhân này thường được chăm sóc bởi bác sĩ phụ khoa. Trong nhóm sau mãn kinh, bệnh nhân với chẩn đoán tự tin nang bì hoặc nang lạc nội mạc có thể được xem xét để theo dõi siêu âm hàng năm khi không phẫu thuật cắt bỏ. Tuy nhiên, ở những bệnh nhân sau mãn kinh, nguy cơ ác tính và nguy cơ biến đổi ác tính (nghĩa là ung thư tế bào sáng và ung thư dạng nội mạc tử cung) cao hơn trong u lạc nội mạc, vì vậy nên cân nhắc nguy cơ này khi quyết định xử trí (34). Nếu có sự thay đổi hình thái hoặc thành phần mạch máu phát triển trong tổn thương, thì nên giới thiệu đến chuyên gia siêu âm hoặc MRI ở nhóm tuổi tiền mãn kinh và MRI ở nhóm sau mãn kinh. Tương tự như theo dõi nang đơn giản và không đơn giản ở nhóm sau mãn kinh, thời gian tối ưu hoặc khoảng thời gian để giám sát chưa được thiết lập.

Nang ngoài buồng trứng – Bao gồm các nang cạnh buồng trứng, nang vùi phúc mạc điển hình và ứ dịch tai vòi điển hình với bất kỳ kích thước. Nói chung, nếu chẩn đoán rất tự tin rằng đó là một nang ngoài buồng trứng, không cần theo dõi thêm đối với các nang cạnh buồng trứng đơn giản nếu trong độ tuổi sinh sản và theo dõi 1 năm trong nhóm tuổi sau mãn kinh. Nếu nang không đơn giản, thì nên xử trí theo tiêu chí phân nhóm nang buồng trứng của O-RADS US. Quản lý bởi bác sĩ phụ khoa được khuyến nghị cho nang vùi phúc mạc hoặc ứ dịch tai vòi điển hình

Nang đơn thùy trơn láng không đơn giản

Nang đơn thùy có bờ trong trơn láng không đơn giản và không thuộc bất kỳ loại tổn thương lành tính kinh điển nào không đòi hỏi phải xử trí ở nhóm tuổi tiền mãn kinh khi kích thước nhỏ hơn hoặc bằng 3 cm. Siêu âm theo dõi trong 8 -12 tuần, ở pha tăng sinh, nếu có thể, được khuyến nghị cho các nang lớn hơn 3 cm và dưới 10 cm. Nếu nang vẫn tồn tại hoặc lớn lên, thì nên chuyển đến bác sĩ chuyên siêu âm hoặc thực hiện MRI để khảo sát thêm. Ở nhóm tuổi mãn kinh, mặc dù theo dõi 1 năm là một lựa chọn nếu nang nhỏ hơn hoặc bằng 3 cm, việc xác định thêm tính chất dịch và bờ trong nang có thể được thực hiện bởi một chuyên gia SA hoặc thực hiện MRI và nên được xem xét cho các nang này bất kể kích thước. Quản lý bởi một bác sĩ phụ khoa được đề nghị cho các nang lớn hơn 3 cm ở nhóm tiền mãn kinh và tất cả các nang đơn thùy trơn láng không đơn giản sau mãn kinh.

O-RADS 3 (1% đến < 10% nguy cơ ác)

Phần lớn các sang thương O-RADS 3 (> 90%) là lành tính và hội đồng đồng ý rằng không cần tham khảo ý kiến bác sĩ ung thư phụ khoa. Bệnh nhân thuộc nhóm tổn thương này nên được quản lý bởi bác sĩ phụ khoa tổng quát, mặc dù điều quan trọng là phải đánh giá hình ảnh tối ưu. Do đó, việc tham khảo ý kiến chuyên gia US hoặc thực hiện MRI để giảm thiểu rủi ro bỏ qua các đặc điểm đáng nghi được khuyến khích bởi chương trình quản lý O-RADS US.

O-RADS 4 (10% đến <50% nguy cơ ác)

Nhóm 4 (sang thương có nguy cơ trung bình) là chắc chắn cần phải được tham vấn với BS ung thư phụ khoa trước khi khối u được loại bỏ hoặc là gửi ngay đến cho BS ung thư phụ khoa (2). Tình trạng mãn kinh, đánh giá của chuyên gia US, đặc điểm trên MRI và dấu ấn sinh học huyết thanh (phổ biến nhất là CA-125) có thể đóng vai trò trong việc quyết định những sang thương nào nên được giới thiệu đến bác sĩ ung thư phụ khoa (49). Nếu phẫu thuật được thực hiện bởi bác sĩ phụ khoa tổng quát, thì cơ sở y tế nên có các “dịch vụ tham vấn và hỗ trợ khi cần” để có dự hậu tốt nhất cho bệnh nhân. (11).

O-RADS 5 (50%-100% nguy cơ ác)

Hệ thống này tuyên bố rằng nhóm 5 (sang thương có nguy cơ cao) nên được chuyển trực tiếp đến bác sĩ chuyên khoa ung thư phụ khoa để quản lý. Mặc dù các dấu ấn huyết thanh cũng có vai trò trong việc đánh giá, hội đồng ORADS US không ủng hộ việc sử dụng chúng thường quy trong đánh giá dựa trên nhóm sang thương và chúng không được đưa vào hệ thống phân tầng nguy cơ của chúng tôi. Hội đồng cảm thấy rằng việc đánh giá khối u nên được cá nhân hóa cho mỗi bệnh nhân. Ví dụ, nồng độ CA-125 tăng cao ở bệnh nhân trong độ tuổi sinh sản, có tổn thương nguy cơ thuộc nhóm trung bình, và bối cảnh lâm sàng rất nghi ngờ lạc nội mạc tử cung, có thể làm tăng việc lo lắng không cần thiết về bệnh ác tính. Tương tự, CA-125 bình thường ở một phụ nữ mãn kinh có thể tạo ra sự trấn an sai lầm đối với một sang thương nhóm 4 hoặc 5. CA-125 trong mô hình ADNEX có tính tối ưu hơn vì chúng không cải thiện hiệu suất mô hình chung để phân biệt giữa các tổn thương lành tính và ác tính. Tuy nhiên, CA-125 giúp phân loại các phân nhóm trong tổn thương ác tính đó (ví dụ, ung thư xâm lấn giai đoạn 2 -4 so với các tổn thương di căn). Hội đồng cũng nhấn mạnh rằng phân loại O-RADS không phải là sự thay thế cho một bệnh sử và khám lâm sàng kỹ lưỡng và việc thực hiện xét nghiệm bổ sung. Mặc dù không có hệ thống phân loại nào có thể hoàn thiện bao hàm tất cả các khía cạnh để quản lý mỗi một bệnh nhân có tổn thương phần phụ, O-RADS US định nghĩa rõ ràng hơn các tiêu chí quản lý khi so sánh với các phương pháp đã được công bố trước đó (50).

Thảo luận

Hội đồng O-RADS tin rằng đã đáp ứng được mục tiêu đưa ra một hệ thống mà chưa từng có trước đây, sử dụng siêu âm với một hệ thống thuật ngữ được định nghĩa trước, để phân loại nguy cơ ác tính trong toàn bộ các sang thương đi từ lành đến khả năng ác tính cao hơn và cung cấp các định hướng xử trí. Hệ thống mới này kết hợp các xu thế quản lý của trường phái Châu Âu cũng như Bắc Mỹ bao gồm các lựa chọn giới thiệu đến chuyên gia SA hoặc thực hiện MRI để xác định đặc điểm sang thương và sử dụng bổ sung các mô tả tổn thương hoặc mô hình toán học để đạt được cùng một sơ đồ quản lý.

Ban đầu, nó có vẻ thất vọng vì tính đặc hiệu của hệ thống O-RADS US thấp so với một số Hệ thống dữ liệu và báo cáo khác như Hệ thống dữ liệu và báo cáo hình ảnh gan (LI-RADS) (51), cái mà có tính đặc hiệu cực kỳ cao. Điều này có liên quan đến các quần thể dân số khác nhau. Trong khi LI-RADS chỉ áp dụng cho những bệnh nhân có nguy cơ mắc ung thư tế bào gan cao, hệ thống O-RADS đã được phát triển cho bệnh nhân có nguy cơ trung bình. Điều này giúp tối đa hóa độ nhạy chứ không phải độ đặc hiệu để không bỏ sót một bệnh ung thư buồng trứng, có tỷ lệ lưu hành thấp nhưng là một bệnh có khả năng gây tử vong cao. Theo thiết kế, hệ thống thực hiện tốt việc giao quản lý phù hợp cho bệnh nhân dựa trên đánh giá nguy cơ với việc quản lý bảo tồn đối với các sang thương giống lành tính và chuyển đến bác sĩ ung thư phụ khoa khi tổn thương nghi ngờ hơn. Do đó, bệnh nhân ung thư buồng trứng sẽ được hưởng lợi từ việc cải thiện khả năng sống sót bằng cách giới thiệu cho trung tâm ung thư phụ khoa, trong khi chẩn đoán dương tính giả sẽ không gây hại cho sự sống sót.

Hội đồng cũng hiểu rằng một hạn chế của phân tầng nguy cơ hiện tại đó là nền tảng của nó dựa trên cơ sở dữ liệu chỉ bao gồm các tổn thương được phẫu thuật làm tiêu chuẩn tham khảo. Điều này có thể dẫn đến nguy cơ ác tính được đánh giá quá mức ở các nhóm lành tính hơn. Vì lý do này, mặc dù dữ liệu phân tích khối u buồng trứng quốc tế (IOTA) cho tất cả các nang đơn thùy trơn láng là một nhóm, chúng tôi đã tách loại nang đơn thùy đơn giản và không đơn giản ra. Có rất nhiều dữ liệu không phải IOTA đồng thuận với sự hiếm gặp của bệnh ác tính trong nhóm này (42-47). Một hạn chế khác là nghiên cứu hồi cứu, thay vì tiến cứu, thử nghiệm các mô tả sử dụng dữ liệu IOTA giai đoạn 1 -3.

Trong quá trình này, hội đồng đã nhận thấy rằng một số thuật ngữ trong bảng từ vựng gốc O-RADS US (20) là không cần thiết trong quy trình phân tầng nguy cơ. Theo đó, chúng tôi đã bao gồm một bảng từ vựng cô đọng chỉ chứa các mô tả cần thiết để tạo thuận lợi cho việc áp dụng các thuật ngữ từ vựng để phân tầng nguy cơ (Hình 1).

Hướng trong tương lai

Với kết quả từ nghiên cứu IOTA 5, nghiên cứu đoàn hệ tiến cứu đa trung tâm lớn nhất không chỉ bao gồm các bệnh nhân được lựa chọn cho phẫu thuật mà còn theo dõi bảo tồn, chúng tôi dự định xác định giá trị từ nhóm bệnh nhân này. Điều này sẽ chứng minh tính giá trị của nó trên một dân số rộng hơn, bao gồm tất cả các loại đặc điểm bệnh lý phần phụ (4).

Việc đánh giá tổn thương không chính thức bằng cách sử dụng thuật ngữ để phân loại nguy cơ đã được thực hiện thành công giữa các thành viên hội đồng. Tuy nhiên, cần có một nghiên cứu về việc sử dụng hệ thống ở các cá nhân khác nhau để xác nhận việc sử dụng hệ thống bởi các chuyên gia cũng như người làm ít kinh nghiệm hơn, do đặc điểm tổn thương ban đầu là chìa khóa để phân tầng nguy cơ và dữ liệu IOTA dựa trên dân số chủ yếu là người châu Âu. Sau khi xác nhận gía trị trong tương lai, mục đích của hội đồng là công cụ quản lý này sẽ được chấp nhận như một tài liệu tham khảo quốc tế để quản lý bệnh nhân có sang thương phần phụ. Chúng tôi mong đợi hệ thống phân tầng nguy cơ này có thể phát triển với các tài liệu dựa trên bằng chứng.

Tác giả

Rochelle F. Andreotti, MD • Dirk Timmerman, MD, PhD • Lori M. Strachowski, MD • Wouter Froyman, MD • Beryl R. Benacerraf, MD • Genevieve L. Bennett, MD • Tom Bourne, PhD • Douglas L. Brown, MD • Beverly G. Coleman, MD • Mary C. Frates, MD • Steven R. Goldstein, MD • Ulrike M. Hamper, MD, MBA • Mindy M. Horrow, MD • Marta Hernanz-Schulman, MD • Caroline Reinhold, MD, MSc • Stephen L. Rose, MD • Brad P. Whitcomb, MD • Wendy L. Wolfman, MD • Phyllis Glanc, MD

From the Department of Radiology and Radiological Sciences and Department of Obstetrics and Gynecology, Vanderbilt University College of Medicine, 1161 21st Ave S, #D3300, Nashville, Tenn 37232 (R.F.A.); Department of Obstetrics and Gynecology, University Hospitals KU Leuven, Leuven, Belgium (D.T.); Department of Radiology, University of California, San Francisco, San Francisco, Calif (L.M.S.); Department of Development and Regeneration, KU Leuven, Leuven, Belgium (W.F.); Department of Obstetrics and Gynecology, University Hospitals Leuven, Leuven, Belgium (W.F.); Department of Radiology, Brigham and Women’s Hospital, Harvard Medical School, Brookline, Mass (B.R.B.); Department of Radiology, NYU Langone Health, New York, NY (G.L.B.); Department of Obstetrics and Gynecology, Queen Charlotte’s and Chelsea Hospital, Imperial College London, London, England (T.B.); Department of Radiology, Mayo Clinic, Rochester, Minn (D.L.B.); Department of Radiology, Center for Fetal Diagnosis and Treatment, Children’s Hospital of Philadelphia, Philadelphia, Pa (B.G.C.); Department of Radiology, Brigham and Women’s Hospital, Boston, Mass (M.C.F.); Department of Obstetrics and Gynecology, New York University School of Medicine, New York, NY (S.R.G.); Department of Radiology, Johns Hopkins University, School of Medicine, Baltimore, Md (U.M.H.); Department of Radiology, Einstein Medical Center, Philadelphia, Pa (M.M.H.); Department of Radiology and Radiological Sciences, Carell Children’s Hospital at Vanderbilt, Nashville, Tenn (M.H.S.); Department of Radiology, McGill University Health Centre, Montreal, Canada (C.R.); Department of Obstetrics and Gynecology, University of Wisconsin, Madison, Wis (S.L.R.); Department of Obstetrics and Gynecology, University of Connecticut School of Medicine, Farmington, Conn (B.P.W.); Department of Obstetrics and Gynecology, Mt. Sinai Hospital, University of Toronto, Toronto, Canada (W.L.W.); and Department of Medical Imaging and Department of Obstetrics and Gynecology, University of Toronto, Sunnybrook Research Institute, Toronto, Canada (P.G.). Received May 22, 2019; revision requested June 21; fial revision received August 28; accepted September 12. Address correspondence to R.F.A. (e-mail: rochelle.f.andreotti@vanderbilt.edu).

Tài liệu tham khảo

References

1. Fung-Kee-Fung M, Kennedy EB, Biagi J, et al. Th optimal organization of gynecologic oncology services: a systematic review. Curr Oncol 2015;22(4):e282–e293.

2. Chan JK, Kapp DS, Shin JY, et al. Inflence of the gynecologic oncologist on the survival of ovarian cancer patients. Obstet Gynecol 2007;109(6):1342–1350.

3. Woo YL, Kyrgiou M, Bryant A, Everett T, Dickinson HO. Centralisation of services for gynaecological cancers – a Cochrane systematic review. Gynecol Oncol 2012;126(2):286–290.

4. Froyman W, Landolfo C, De Cock B, et al. Risk of complications in patients with conservatively managed ovarian tumours (IOTA5): a 2-year interim analysis of a multicentre, prospective, cohort study. Lancet Oncol 2019;20(3):448–458.

5. Glanc P, Benacerraf B, Bourne T, et al. First International Consensus Report on Adnexal Masses: Management Recommendations. J Ultrasound Med 2017;36(5):849–863.

6. Levine D, Brown DL, Andreotti RF, et al. Management of asymptomatic ovarian and other adnexal cysts imaged at US: Society of Radiologists in Ultrasound Consensus Conference Statement. Radiology 2010;256(3):943–954.

7. Froyman W, Wynants L, Landolfo C, et al. Validation of the Performance of International Ovarian Tumor Analysis (IOTA) Methods in the Diagnosis of Early Stage Ovarian Cancer in a Non-Screening Population. Diagnostics (Basel) 2017;7(2):E32.

8. Valentin L, Hagen B, Tingulstad S, Eik-Nes S. Comparison of ‘pattern recognition’ and logistic regression models for discrimination between benign and malignant pelvic masses: a prospective cross validation. Ultrasound Obstet Gynecol 2001;18(4):357–365.

9. Timmerman D. Th use of mathematical models to evaluate pelvic masses; can they beat an expert operator? Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2004;18(1):91–104.

10. Meys EM, Kaijser J, Kruitwagen RF, et al. Subjective assessment versus ultrasound models to diagnose ovarian cancer: A systematic review and meta-analysis. Eur J Cancer 2016;58:17–29.

11. Practice Bulletin No. 174 Summary: Evaluation and Management of Adnexal Masses. Obstet Gynecol 2016;128(5):1193–1195.

12. Timmerman D, Valentin L, Bourne TH, et al. Terms, defiitions and measurements to describe the sonographic features of adnexal tumors: a consensus opinion from the International Ovarian Tumor Analysis (IOTA) Group. Ultrasound Obstet Gynecol 2000;16(5):500–505.

13. Timmerman D, Testa AC, Bourne T, et al. Simple ultrasound-based rules for the diagnosis of ovarian cancer. Ultrasound Obstet Gynecol 2008;31(6):681–690.

14. Timmerman D, Van Calster B, Testa A, et al. Predicting the risk of malignancy in adnexal masses based on the Simple Rules from the International Ovarian Tumor Analysis group. Am J Obstet Gynecol 2016;214(4):424–437.

15. Van Calster B, Van Hoorde K, Valentin L, et al. Evaluating the risk of ovarian cancer before surgery using the ADNEX model to diffrentiate between benign, borderline, early and advanced stage invasive, and secondary metastatic tumours: prospective multicentre diagnostic study. BMJ 2014;349:g5920.

16. DePriest PD, Shenson D, Fried A, et al. A morphology index based on sonographic fidings in ovarian cancer. Gynecol Oncol 1993;51(1):7–11.

17. Ueland FR, DePriest PD, Pavlik EJ, Kryscio RJ, van Nagell JR Jr. Preoperative diffrentiation of malignant from benign ovarian tumors: the efficy of morphology indexing and Doppler flw sonography. Gynecol Oncol 2003;91(1):46–50.

18. Elder JW, Pavlik EJ, Long A, et al. Serial ultrasonographic evaluation of ovarian abnormalities with a morphology index. Gynecol Oncol 2014;135(1):8–12.

19. Amor F, Alcázar JL, Vaccaro H, León M, Iturra A. GI-RADS reporting system for ultrasound evaluation of adnexal masses in clinical practice: a prospective multicenter study. Ultrasound Obstet Gynecol 2011;38(4):450–455.

20. Andreotti RF, Timmerman D, Benacerraf BR, et al. Ovarian-Adnexal Reporting Lexicon for Ultrasound: A White Paper of the ACR OvarianAdnexal Reporting and Data System Committee. J Am Coll Radiol 2018;15(10):1415–1429 [Published correction appears in J Am Coll Radiol 2019;16(3):403–406.] https://doi.org/10.1016/j.jacr.2018.07.004.

21. Timmerman D, Testa AC, Bourne T, et al. Logistic regression model to distinguish between the benign and malignant adnexal mass before surgery: a multicenter study by the International Ovarian Tumor Analysis Group. J Clin Oncol 2005;23(34):8794–8801.

22. Van Holsbeke C, Van Calster B, Testa AC, et al. Prospective internal validation of mathematical models to predict malignancy in adnexal masses: results from the international ovarian tumor analysis study. Clin Cancer Res 2009;15(2):684–691.

23. Timmerman D, Ameye L, Fischerova D, et al. Simple ultrasound rules to distinguish between benign and malignant adnexal masses before surgery: prospective validation by IOTA group. BMJ 2010;341:c6839.

24. Testa A, Kaijser J, Wynants L, et al. Strategies to diagnose ovarian cancer: new evidence from phase 3 of the multicentre international IOTA study. Br J Cancer 2014;111(4):680–688.

25. Szubert S, Wojtowicz A, Moszynski R, et al. External validation of the IOTA ADNEX model performed by two independent gynecologic centers. Gynecol Oncol 2016;142(3):490–495.

26. Sayasneh A, Ferrara L, De Cock B, et al. Evaluating the risk of ovarian cancer before surgery using the ADNEX model: a multicentre external validation study. Br J Cancer 2016;115(5):542–548.

27. Meys EMJ, Jeelof LS, Achten NMJ, et al. Estimating risk of malignancy in adnexal masses: external validation of the ADNEX model and comparison with other frequently used ultrasound methods. Ultrasound Obstet Gynecol 2017;49(6):784–792.

28. Brown DL, Dudiak KM, Laing FC. Adnexal masses: US characterization and reporting. Radiology 2010;254(2):342–354.

29. Patel MD, Feldstein VA, Filly RA. Th likelihood ratio of sonographic fidings for the diagnosis of hemorrhagic ovarian cysts. J Ultrasound Med 2005;24(5):607–614; quiz 615.

30. Ameye L, Timmerman D, Valentin L, et al. Clinically oriented three-step strategy for assessment of adnexal pathology. Ultrasound Obstet Gynecol 2012;40(5):582–591.

31. Patel MD, Feldstein VA, Lipson SD, Chen DC, Filly RA. Cystic teratomas of the ovary: diagnostic value of sonography. AJR Am J Roentgenol 1998;171(4):1061–1065.

32. Umesaki N, Nagamatsu A, Yada C, Tanaka T. MR and ultrasound imaging of flating globules in mature ovarian cystic teratoma. Gynecol Obstet Invest 2004;58(3):130–132.

33. Caspi B, Appelman Z, Rabinerson D, Elchalal U, Zalel Y, Katz Z. Pathognomonic echo patterns of benign cystic teratomas of the ovary: classifiation, incidence and accuracy rate of sonographic diagnosis. Ultrasound Obstet Gynecol 1996;7(4):275–279.

34. Van Holsbeke C, Van Calster B, Guerriero S, et al. Endometriomas: their ultrasound characteristics. Ultrasound Obstet Gynecol 2010;35(6):730–740.

35. Patel MD, Feldstein VA, Chen DC, Lipson SD, Filly RA. Endometriomas: diagnostic performance of US. Radiology 1999;210(3):739–745.

36. Valentin L. Use of morphology to characterize and manage common adnexal masses. Best Pract Res Clin Obstet Gynaecol 2004;18(1):71–89.

37. Sokalska A, Timmerman D, Testa AC, et al. Diagnostic accuracy of transvaginal ultrasound examination for assigning a specifi diagnosis to adnexal masses. Ultrasound Obstet Gynecol 2009;34(4):462–470.

38. Guerriero S, Ajossa S, Mais V, Angiolucci M, Paoletti AM, Melis GB. Role of transvaginal sonography in the diagnosis of peritoneal inclusion cysts. J Ultrasound Med 2004;23(9):1193–1200.

39. Patel MD, Acord DL, Young SW. Likelihood ratio of sonographic fidings in discriminating hydrosalpinx from other adnexal masses. AJR Am J Roentgenol 2006;186(4):1033–1038.

40. Thmassin-Naggara I, Aubert E, Rockall A, et al. Adnexal masses: development and preliminary validation of an MR imaging scoring system. Radiology 2013;267(2):432–443.

41. Dodge JE, Covens AL, Lacchetti C, et al. Management of a suspicious adnexal mass: a clinical practice guideline. Curr Oncol 2012;19(4):e244–e257.

42. Smith-Bindman R, Poder L, Johnson E, Miglioretti DL. Risk of Malignant Ovarian Cancer Based on Ultrasonography Findings in a Large Unselected Population. JAMA Intern Med 2019;179(1):71–77.

43. Greenlee RT, Kessel B, Williams CR, et al. Prevalence, incidence, and natural history of simple ovarian cysts among women .55 years old in a large cancer screening trial. Am J Obstet Gynecol 2010;202(4):373.e1–373.e9.

44. Sharma A, Apostolidou S, Burnell M, et al. Risk of epithelial ovarian cancer in asymptomatic women with ultrasound-detected ovarian masses: a prospective cohort study within the UK collaborative trial of ovarian cancer screening (UKCTOCS). Ultrasound Obstet Gynecol 2012;40(3):338–344.

45. Jacobs IJ, Menon U, Ryan A, et al. Ovarian cancer screening and mortality in the UK Collaborative Trial of Ovarian Cancer Screening (UKCTOCS): a randomised controlled trial. Lancet 2016;387(10022):945–956.

46. Modesitt SC, Pavlik EJ, Ueland FR, DePriest PD, Kryscio RJ, van Nagell JR Jr. Risk of malignancy in unilocular ovarian cystic tumors less than 10 centimeters in diameter. Obstet Gynecol 2003;102(3):594–599.

47. van Nagell JR Jr, DePriest PD, Ueland FR, et al. Ovarian cancer screening with annual transvaginal sonography: fidings of 25,000 women screened. Cancer 2007;109(9):1887–1896.

48. Parazzini F, Frattaruolo MP, Chiaffrino F, Dridi D, Roncella E, Vercellini P. Th limited oncogenic potential of unilocular adnexal cysts: A systematic review and meta-analysis. Eur J Obstet Gynecol Reprod Biol 2018;225:101–109.

49. Duff MJ, Bonfrer JM, Kulpa J, et al. CA125 in ovarian cancer: European Group on Tumor Markers guidelines for clinical use. Int J Gynecol Cancer 2005;15(5):679–691.

50. Guidelines for referral to a gynecologic oncologist: rationale and benefis. The Society of Gynecologic Oncologists. Gynecol Oncol 2000;78(3 Pt 2):S1–S13.

51. Chernyak V, Fowler KJ, Kamaya A, et al. Liver Imaging Reporting and Data System (LI-RADS) Version 2018: Imaging of hepatocellular carcinoma in at-risk patients. Radiology 2018;289(3):816–830.

Bản gốc Tiếng Anh

Nguồn: Chi hội Siêu âm Việt Nam

Trang web đang upload liên tục các video bài giảng và tài liệu chẩn đoán hình ảnh. Để nhận được thông báo về các bài viết mới nhất, vui lòng đăng ký tại Form nhận bản tin và theo dõi tại kênh Youtube

Load More In Ebook tiếng Việt