[PDF] HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG VIÊM PHỔI COVID-19, BV PHỔI TRUNG ƯƠNG

Huong dan thuc hanh lam sang viem phoi COVID-19, BV Phoi TW

Tài liệu “HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG VIÊM PHỔI COVID-19” do Bệnh viện phổi Trung ương, Hội Phổi Việt Nam soạn thảo dựa trên hướng dẫn tổng quát của Bộ Y tế, cập nhật ngày 14 tháng 02 năm 2020.
Tài liệu đầy đủ về sàng lọc, chẩn đoán, điều trị và bổ sung một số chi tiết nhất là điều trị COVID-19 cùng với các bệnh phổi nền, có thêm phần dinh dưỡng tiết chế và phục hồi chức năng giúp ích cho các đồng nghiệp thực hành cứu chữa người bệnh.
Biên soạn: Bệnh viện Phổi Trung Ương, Hội phổi Việt Nam. Chủ biên: PGS.TS.BS. Nguyễn Viết Nhung.

HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG VIÊM PHỔI COVID-19

GIỚI THIỆU

Coronavirus là một họ virus lớn, thường gây bệnh nhẹ với các biểu hiện cảm cúm ngoại trừ chủng SARS-CoV từ Trung Quốc năm 2002, MERS-CoV từ Trung Đông năm 2012. Cuối năm 2019 xuất hiện từ Trung Quốc một chủng mới Coronavirus gây viêm đường hô hấp cấp với tên lúc đầu là Novel-CoV (COVID-19) và từ ngày 11 tháng 2 năm 2020 Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cùng các đối tác thống nhất đặt tên là COVID-19 viết tắt của các từ tiếng Anh CoronaVIrus Disease năm 2019. Sau nhiều lần từ chối công bố dịch toàn cầu, ngày 31/01/2020 WHO đã tuyên bố dịch bệnh do COVID-19 đang xảy ra tại Trung Quốc và tại các quốc gia khác là tình trạng y tế công cộng khẩn cấp gây quan ngại quốc tế. Ngày 1 tháng 2 năm 2020 Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc công bố dịch truyền nhiễm tại Việt Nam thuộc Bệnh truyền nhiễm nhóm A, nguy cơ ở mức độ khẩn cấp toàn cầu.

Virus này bám dính xâm nhập gây viêm niêm mạc đường hô hấp và gây ra viêm phổi nhiều mức độ khác nhau với nguy cơ nặng và tử vong. Nguy cơ cao nhất ở những người gia và có các bệnh phổi mạn tính hoặc tình trạng bệnh có suy giảm miễn dịch.

Với kinh nghiệm thành công của khống chế dịch SARS năm 2003, Bộ Y tế Việt Nam đã nhanh chóng có hướng dẫn và cập nhật hướng dẫn lâm sàng cùng với các hướng dẫn giám sát cách ly để ứng phó với dịch. Bệnh viện Phổi Trung ương, Hội Phổi Việt Nam nhận thức rõ tính chất phức tạp trong thực hành với các trường hợp nặng trên nền các bệnh phổi mạn tính từ trước như Hen, COPD, ung thư phổi, lao phổi, xơ phổi, bệnh phổi kẽ, bụi phổi và nhất là khi dịch bệnh bùng phát diện rộng (hy vọng điều này không xảy ra). hinhanhykhoa.com
Vì vậy, dựa trên hướng dẫn tổng quát của Bộ Y tế, Bệnh viện phổi Trung ương, Hội Phổi Việt Nam soạn thảo HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG VIÊM PHỔI COVID-19 nhằm bổ sung một số chi tiết nhất là điều trị COVID-19 cùng với các bệnh phổi nền, thêm phần dinh dưỡng tiết chế và phục hồi chức năng có thể giúp ích cho các đồng nghiệp thực hành cứu chữa người bệnh.

Tài liệu được phê duyệt của Hội đồng khoa học Bệnh viện Phổi Trung Ương.

TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH LÂM SÀNG VIÊM PHỔI COVID-19

Mục lục

Đọc online

Tải về

  • Định dạng: pdf
  • Dung lượng: 1.6 MB
  • Số trang: 58
  • Miễn phí

 

Phần tiếp theo trình bày mục chẩn đoán hình ảnh trên X quang và CT của tài liệu.

HÌNH ẢNH X QUANG VÀ CHỤP CẮT LỚP VI TÍNH PHỔI

X quang ngực quy ước

Hình ảnh X quang (XQ) bình thường trong giai đoạn ủ bệnh (3 – 14 ngày). Các bất thường có thể xuất hiện vài ngày sau khi chụp lần đầu. Thường bắt đầu từ tổn thương một thùy sau đó lan ra nhiều thùy, từ một phổi lan ra hai phổi. 75-98% NB có tổn thương hai phổi. Tổn thương gặp trên XQ là hình kính mờ và hình đông đặc, không đều, ranh giới không rõ. Các bất thường có khuynh hướng ưu thế ngoại vi, phần thấp hai phổi. Một số lượng nhỏ (1%) có kèm tràn khí màng phổi. Khi có bất thường XQ xảy ra nó thường tiến triển rất nhanh, thường chỉ trong khoảng thời gian vài ba ngày. Khuyến cáo theo dõi chụp Xquang ngực sau mỗi 6 giờ. Hình ảnh Xquang thường tiến triển chậm hơn so với cải thiện lâm sàng. Giảm thể tích phổi và sẹo do tổn thương có thể thấy ở một số NB giai đoạn phục hồi do xơ hóa. hinhanhykhoa.com

Hình 1. X-quang ngực qui ước ở NB nam, 65 tuổi bị viêm phổi do COVID-19 (Lưu ý: NB chụp tư thế nằm ngửa) (1)

Hình 1. X-quang ngực qui ước ở NB nam, 65 tuổi bị viêm phổi do COVID-19 (Lưu ý: NB chụp tư thế nằm ngửa) (1)
A. Khi NB mới vào viện: Bất thường dạng kính mờ khu vực 1/3 giữa trường phổi trái.
B. 3 ngày sau: Tổn thương dạng đông đặc lan tỏa rộng hơn khu vực 1/3 giữa trường phổi trái song ưu thế phần thấp.
C. Ngày thứ 5: Tổn thương dạng mờ lan tỏa, ranh giới không rõ, ưu thế ngoại vi, phần thấp (2/3 dưới) hai phổi.
D. Ngày thứ 6: Tổn thương lan rộng hơn phim ngày thứ 5, mức độ đông đặc bên trái nặng hơn
(1) New England Juornal of Medicine (2020); ” Importation and Human Transmision of a Novel Coronavirus in Vietnam”; DOI 10.1056/NEJMc2001272

Hình 2. X-quang ngực ở NB nữ, 43 tuổi, viêm phổi do COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.

Hình 2. X-quang ngực ở NB nữ, 43 tuổi, viêm phổi do COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.
Bất thường dạng trên mức kính mờ (gần với đông đặc), ưu thế 2/3 dưới hai phổi. Lưu ý tổn thương tiến sát bìa phổi.

Cắt lớp vi tính

Tổn thương trên cắt lớp vi tính (CT) ngực tương đồng với hình ảnh XQ qui ước. Thường xuất hiện hình kính mờ, ưu thế thùy dưới có liên quan đến dày tổ chức kẽ vách liên tiểu thùy hoặc do đông đặc (lấp đầy phế nang) giai đoạn sớm. Đông đặc nhu mô, thường ưu thế ngoại vi, phần thấp, phía sau hai bên. Xơ hóa, rối loạn kiến trúc, giãn phế quản do kéo (giai đoạn muộn). Hạch bạch huyết lớn trung thất, rốn phổi thường không thấy. Tràn dịch màng phổi thường hiếm gặp. Khi bệnh thoái lui tổn thương đông đặc dần chuyển thành kính mờ và biến mất. hinhanhykhoa.com

Hình 3. HRCT ở NB nữ, 33 tuổi bị viêm phổi COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.

Hình 3. HRCT ở NB nữ, 33 tuổi bị viêm phổi COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.
A. Hình kính mờ, ranh giới không rõ vùng phân thùy II hai phổi.
B. 3 ngày sau hình kính mờ lan rộng, ưu thế ngoại vi rõ ràng.

Hình 4. Hình CLVT cửa sổ phổi ở bé trai, 8 tuổi bị viêm phổi COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.

Hình 4. Hình CLVT cửa sổ phổi ở bé trai, 8 tuổi bị viêm phổi COVID-19 ở Vũ Hán, Trung Quốc.
Các lát cắt từ cao xuống thấp cho thấy hình kính mờ, đông đặc, ưu thế phần thấp, phía sau hai bên.

Hình ảnh viêm phổi do chủng COVID-19 mới còn rất hiếm song qua các ca bệnh đã có chẩn đoán xác định cũng đã hé mở cho chúng ta thấy được các đặc điểm hình ảnh của điện quang ngực của căn bệnh này.

Tùy thuộc vào giai đoạn bệnh mà có các hình ảnh khác nhau (pha sớm: kính mờ, chủ yếu do tổn thương phù kẽ; pha muộn: mờ lan tỏa do đông đặc, ranh giới không rõ). Các giai đoạn tổn thương thường ưu thế phần thấp, phía sau là chủ yếu.

Xem thêm

Load More In Ebook tiếng Việt