Giải phẫu phân thùy gan (Liver – Segmental Anatomy)

Giai phau phan thuy gan

Nguồn: Liver – Segmental Anatomy (Radiology Assistant). Ngày xuất bản 2006-05-07 / cập nhật 2015-10-15 / 2022-06-13
Tác giả: Robin Smithuis, Eduard E. de Lange
Lược dịch: BS Lê Hùng, Cập nhật: BS Sơn Lâm

Giải phẫu gan có thể phân thành hai loại: giải phẫu hình thái và giải phẫu chức năng.

Giải phẫu hình thái cổ điển dựa trên hình thể bên ngoài của gan và không thể hiện các cấu trúc bên trong của các mạch máu và sự phân nhánh của ống mật, trong khi những điều này có vai trò rất quan trọng trong phẫu thuật gan.

Bác sĩ phẫu thuật và cũng là nhà giải phẫu học người Pháp Claude Couinaud là người đầu tiên chia gan thành 8 phân thùy độc lập về chức năng cho phép cắt bỏ các phân thùy này mà không làm tổn thương các phân thùy khác.

Giải phẫu phân thùy gan

Phân thùy gan theo Couinaud

Giai phau phan thuy gan - hinh 01
Phân thùy gan theo Couinaud.

Giải phẫu gan theo Couinaud chia gan thành 8 phân thùy độc lập về chức năng. Mỗi phân thùy có đường dẫn máu vào và ra và đường dẫn lưu mật riêng. Ở trung tâm mỗi phân thùy có một nhánh của tĩnh mạch cửa, động mạch gan và ống mật. Ở ngoại vi của mỗi phân thùy có nhánh mạch máu đi ra và đổ vào các tĩnh mạch gan.

Gan được chia bởi ba mặt phẳng thẳng đứng:

  • Mặt phẳng tĩnh mạch gan phải chia thùy phải thành phân thùy trước và phân thùy sau.
  • Mặt phẳng tĩnh mạch gan giữa chia gan thành thùy phải và thùy trái hoặc nửa gan phải và nửa gan trái. Mặt phẳng này chạy từ tĩnh mạch chủ dưới đến hố túi mật.
  • Mặt phẳng rốn chạy từ dây chằng liềm đến tĩnh mạch chủ dưới và chia thùy trái thành phân thùy giữa (là phân thùy IV) và phân thùy bên (tạo thành bởi phân thùy II và III). Đây là mặt phẳng dọc duy nhất không được xác định bởi tĩnh mạch gan.
Giai phau phan thuy gan - hinh 02
Hình minh họa khác về giải phẫu phân thùy chức năng gan.

Tĩnh mạch cửa

Tĩnh mạch cửa chia gan thành các phân thùy trên và dưới.

Các tĩnh mạch cửa trái và phải phân nhánh lên trên và xuống dưới để đi vào trung tâm của mỗi phân thùy.

Tĩnh mạch gan trái

Tầm quan trọng của tĩnh mạch gan trái còn gây tranh cãi. Một số tác giả cho rằng nó trùng với khe rốn (umbilical fissure), nhưng trên thực tế, tĩnh mạch gan trái chạy về phía ngoài của khe rốn [hình trên].

Trong khi một số tác giả cho rằng sự phân chia giữa phân thùy II và III được hình thành bởi mặt phẳng ngang của tĩnh mạch cửa trái, hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng đó là mặt phẳng được xác định bởi tĩnh mạch gan trái.

Trong thực tế, khi một tổn thương nằm ở phân thùy bên của thùy trái, cả hai phân thùy Couinaud II và III thường được cắt bỏ dựa trên mặt phẳng được tạo thành bởi khe rốn (cắt bỏ phân thùy bên của thùy trái, left lateral segmentectomy).

Giai phau phan thuy gan - hinh 03
Trên mặt phẳng trán của gan, không nhìn thấy được các phân thùy VI và VII nằm ở phía sau.

Hình minh họa trên thể hiện các phân thùy của gan. Tuy nhiên trên thực tế tỷ lệ lại khác nhau. Ở mặt phẳng trán thông thường, các phân thùy VI và VII không thể nhìn thấy được vì chúng nằm ở phía sau hơn. Bờ phải của gan được tạo thành bởi phân thùy V và VIII. Mặc dù phân thùy IV là một phần của nửa gan trái, nhưng nó nằm ở bên phải nhiều hơn.

Couinaud chia gan thành gan trái và gan phải về chức năng bằng khe cửa chính (main portal scissurae) chứa tĩnh mạch gan giữa. Đây được gọi là đường Cantlie. Đường Cantlie chạy từ giữa hố túi mật ở phía trước tới tĩnh mạch chủ dưới ở phía sau.

Đánh số các phân thùy

Giai phau phan thuy gan - hinh 04
Các phân thùy gan được đánh số theo chiều kim đồng hồ.

Có tám phân thùy gan.

Phân thùy IV đôi khi được chia thành phân thùy IVa và IVb theo Bismuth.

Việc đánh số các phân thùy được thực hiện theo chiều kim đồng hồ.

Phân thùy I (thùy đuôi) nằm ở phía sau. Nó không nhìn thấy trên mặt phẳng trán.

Giải phẫu cắt ngang

Giai phau phan thuy gan - hinh 05
Hình ảnh ngang mức các phân thùy trên của gan.

Hình trên là hình ảnh cắt ngang qua các phân thùy trên của gan, được phân chia bởi tĩnh mạch gan phải, gan giữa và dây chằng liềm.

Giai phau phan thuy gan - hinh 06
Hình ảnh ngang mức tĩnh mạch cửa trái.

Đây là hình ảnh cắt ngang ngang mức tĩnh mạch cửa trái. Ở mức này, tĩnh mạch cửa trái chia thùy trái thành các phân thùy trên (II và IVa) và phân thùy dưới (III và IVb). Tĩnh mạch cửa bên trái ở mức cao hơn tĩnh mạch cửa bên phải.

Giai phau phan thuy gan - hinh 07
Hình ảnh ngang mức tĩnh mạch cửa phải.

Hình ảnh này ở ngang mức tĩnh mạch cửa bên phải. Ở mức này, tĩnh mạch cửa phải chia thùy phải của gan thành các phân thùy trên (VII và VIII) và các phân thùy dưới (V và VI). Tĩnh mạch cửa bên phải thấp hơn tĩnh mạch cửa trái.

Giai phau phan thuy gan - hinh 08
Hình ảnh ngang mức tĩnh mạch lách.

Ở ngang mức tĩnh mạch lách, nằm thấp hơn tĩnh mạch cửa phải, chỉ nhìn thấy được các phân thùy dưới.

Cách phân chia các phân thùy gan trên hình ảnh cắt ngang

Giai phau phan thuy gan - hinh 09

Gan trái: phân thùy bên (II/III) so với phân thùy giữa (IVA/B)
Ngoại suy một đường dọc theo dây chằng liềm, đi lên ở phía trên đến nơi hợp lưu của tĩnh mạch gan trái và tĩnh mạch gan giữa tại tĩnh mạch chủ dưới (IVC) (đường màu xanh dương).

Gan trái so với gan phải: IVA/B so với V/VIII
Ngoại suy một đường từ hố túi mật lên trên dọc theo tĩnh mạch gan giữa đến IVC (đường màu đỏ).

Gan phải: phân thùy trước (V/VIII) so với phân thùy sau (VI/VII)
Ngoại suy một đường dọc theo tĩnh mạch gan phải từ IVC đến bờ gan bên (đường màu xanh lá).

Xem thêm giải phẫu cắt lớp phân thùy gan trên CT:
Atlas giải phẫu cắt lớp phân thùy gan trên CT (tô màu và chú thích)
Giải phẫu gan trên hình ảnh cắt lớp vi tính

Video giải phẫu phân thùy gan trên MRI

Thùy đuôi

Thùy đuôi (phân thùy I) nằm ở phía sau. Thùy đuôi khác biệt về mặt giải phẫu với các thùy khác ở chỗ nó thường có các tĩnh mạch gan nối trực tiếp với IVC, tách biệt với 3 tĩnh mạch gan chính. Thùy đuôi có thể được cấp máu bởi cả hai nhánh phải và trái của tĩnh mạch cửa.

Hình bên dưới là hình ảnh CT của một bệnh nhân xơ gan với tình trạng teo nhỏ thùy phải, thể tích thùy trái bình thường và phì đại thùy đuôi. Do nguồn cung cấp máu khác nhau, thùy đuôi không bị ảnh hưởng bởi quá trình bệnh lý và nó phì đại để bù lại cho sự mất nhu mô gan bình thường.

Giai phau phan thuy gan - hinh 10
Phì đại thùy đuôi ở bệnh nhân xơ gan. Lưu ý nửa gan phải nhỏ.

Phẫu thuật gan

Giai phau phan thuy gan - hinh 11

Right hepatectomy
Phân thùy V, VI, VII và VIII (± phân thùy I).

Extended Right hay Right trisectionectomy
Phân thùy IV, V, VI, VII và VIII (± phân thùy I).

Left hepatectomy
Phân thùy II, III và IV (± phân thùy I).

Extended Left hay Left trisectionectomy
Phân thùy II, III, IV, V và VIII (± phân thùy I).

Nhiều bác sĩ phẫu thuật thích sử dụng thuật ngữ “extended” thay vì trisectionectomy để chỉ ra rằng một số mô lân cận của phân thùy 4, hoặc 5/8 có thể được cắt thêm thay vì cắt toàn bộ phân thùy 4, hoặc 5/8.

Giai phau phan thuy gan - hinh 12

Right posterior sectionectomy
Phân thùy VI và VII

Right anterior sectionectomy
Phân thùy V và VIII

Left medial sectionectomy
Phân thùy IV

Left lateral sectionectomy
Phân thùy II và III

Trang web đang upload liên tục các video bài giảng và tài liệu chẩn đoán hình ảnh. Để nhận thông báo về các bài viết mới nhất, vui lòng đăng ký Nhận bài viết mới và theo dõi kênh Youtube

Tải thêm Kiến thức Y khoa