[Sách dịch] Hướng dẫn thực hành siêu âm tim thai – Mặt cắt ba mạch máu khí quản và trung thất trên

Mặt cắt ba mạch máu khí quản và trung thất trên là bản dịch Chương 9 của sách Hướng dẫn thực hành siêu âm tim thai (A Practical Guide to Fetal Echocardiography: Normal and Abnormal Hearts) do GS Alfred AbuhamadGS Rabih Chaoui chủ biên.

Người dịch BS Sơn Lâm, hiệu chỉnh BS Nguyễn Văn Thụy, Nhóm Siêu âm Tim thai Đà Nẵng.

Nội dung và định dạng bản dịch theo sách gốc để bạn đọc dễ tham khảo và đối chiếu.

Đây là một nguồn tham khảo hay tạo nền tảng cho các bác sĩ thực hành siêu âm chẩn đoán và tư vấn chính xác các bệnh tim bẩm sinh.

Giới thiệu sách và các chương: Hướng dẫn thực hành siêu âm tim thai (A Practical Guide to Fetal Echocardiography: Normal and Abnormal Hearts)

CHƯƠNG 9. MẶT CẮT BA MẠCH MÁU KHÍ QUẢN VÀ TRUNG THẤT TRÊN

Nội dung

• GIỚI THIỆU

• KỸ THUẬT SIÊU ÂM

• ĐÁNH GIÁ MẶT CẮT BA MẠCH MÁU KHÍ QUẢN TRÊN SIÊU ÂM THANG XÁM VÀ DOPPLER MÀU

  • Dấu hiệu bình thường trên mặt cắt ba mách máu khí quản
  • Dấu hiệu bất thường thường gặp trên mặt cắt ba mạch máu khí quản
    • Cung động mạch chủ hẹp hoặc không có
    • Động mạch phổi hẹp hoặc không có
    • Cung động mạch chủ ngang dãn
    • Động mạch phổi dãn
    • Một đại động mạch duy nhất có kích thước bình thường
    • Một đại động mạch duy nhất có kích thước lớn
    • Cung động mạch chủ ở bên phải khí quản
    • Một đại động mạch chạy ngoằn ngoèo
    • Kết nối giữa hai đại động mạch
    • Hiện diện bốn mạch máu
    • Ba mạch máu nhưng không có tĩnh mạch chủ trên
    • Tĩnh mạch chủ trên dãn

• ĐÁNH GIÁ TUYẾN ỨC VÀ TĨNH MẠCH CÁNH TAY ĐẦU TRÁI

  • Tuyến ức
  • Tĩnh mạch cánh tay đầu trái

• KẾT LUẬN

• ĐIỂM CHÍNH

 

● GIỚI THIỆU

Siêu âm đánh giá các mặt phẳng ngang của các mạch máu ở ngực trên của thai được mô tả lần đầu tiên vào giữa những năm 1980 (1) và đầu những năm 1990 (2). Giá trị của các mặt phẳng ngang này trong đánh giá toàn diện hệ thống tim mạch của thai đã trở nên nổi tiếng và phổ biến vào cuối những năm 1990 (3). Nhiều tên khác nhau tương ứng với các mức giải phẫu khác nhau đã được đặt cho các mặt phẳng ngang và mặt phẳng tiếp tuyến ở ngực trên. Các mặt phẳng ngang và tiếp tuyến này đánh giá động mạch chủ lên và cung động mạch, thân động mạch phổi và cung ống động mạch, tĩnh mạch chủ trên (SVC), và các cấu trúc và mạch máu lân cận khác. Từ thấp đến cao, khởi đầu về phía đầu từ mặt cắt năm buồng, một số mặt phẳng đã được mô tả bao gồm mặt cắt ba mạch máu, mặt cắt cung ống động mạch, mặt cắt ba mạch máu-khí quản (3VT), mặt cắt cung động mạch chủ ngang, và mặt cắt tĩnh mạch cánh tay đầu (3-9). Mặt cắt ba mạch máu thể hiện một mặt phẳng ngang cho thấy động mạch chủ lên, thân động mạch phổi và SVC tại vị trí SVC đổ vào nhĩ phải (xem Hình 8.4 và Chương 8). Mặt cắt 3VT là một mặt phẳng ngang hơi nghiêng ở trung thất trên, thể hiện thân động mạch phổi ngang và cung ống động mạch, cung động mạch chủ ngang và vùng eo động mạch chủ, mặt cắt ngang của SVC và khí quản (Hình 9.1). Mặt cắt này là một phần của thăm khám siêu âm tim thai và được đề xuất trong các hướng dẫn sàng lọc tim thai (10-12). Các tác giả tin rằng mặt cắt 3VT là một mặt cắt rất quan trọng để đánh giá các mạch máu lớn và hệ thống tĩnh mạch ngực cao, bên cạnh các cấu trúc giải phẫu lân cận ở trung thất trên. Chính vì lý do này mà chúng tôi quyết định dành trọn một chương của cuốn sách về chủ đề này. Để hiểu rõ hơn về giá trị lâm sàng của mặt cắt này, chúng tôi mô tả giải phẫu bình thường và bao gồm một số bất thường tim liên quan với mặt cắt 3VT bất thường.

A Practical Guide to Fetal Echocardiography 3ed - 9.1

● KỸ THUẬT SIÊU ÂM

Mặt cắt 3VT là một mặt phẳng ngang/nghiêng của ngực cao. Kỹ thuật siêu âm để thu được mặt cắt 3VT như sau:

1. Xác định situs thai nhi (xem Chương 6).

2. Thu mặt cắt bốn buồng tim (xem Chương 7).

3. Trượt đầu dò về phía đầu trong khi vẫn duy trì trục ngang trong lồng ngực để có mặt cắt ba mạch máu (xem Chương 8).

4. Từ mặt cắt ba mạch máu, có thể thu được mặt cắt 3VT bằng cách nghiêng nhẹ đầu dò hướng về bên trái thai nhi (Hình 8.1) cho đến khi thấy sự hợp nhất của cung động mạch chủ và cung ống động mạch (Hình 9.1 đến 9.4). Mặt cắt này có thể thể hiện một số bất thường mạch máu lớn như sẽ trình bày ở phần sau trong chương này.

5. Phía trước 3VT và phía sau thành ngực trước là tuyến ức với cấu trúc giảm âm, thường có đường viền bên rõ so với mô phổi lân cận tăng âm hơn. Đầu dò tần số cao hơn và/hoặc thiết lập độ phân giải cao cho phép phân định tuyến ức tốt hơn, khi đó có thể thực hiện các phép đo và xác định bất thường.

6. Từ mặt cắt 3VT di chuyển đầu dò về phía đầu và hơi nghiêng sang trái, SVC được ghi nhận khi nó kết nối với tĩnh mạch cánh tay đầu. Tĩnh mạch cánh tay đầu chạy từ ngực trên bên trái phía sau đến ngực phải phía trước khi nó kết nối với SVC. Trong mặt phẳng ngực trên này, các mạch máu lớn không thấy vì chúng ở vị trí giải phẫu thấp hơn.

A Practical Guide to Fetal Echocardiography 3ed - 9.2

 

A Practical Guide to Fetal Echocardiography 3ed - 9.3

 

● ĐÁNH GIÁ MẶT CẮT BA MẠCH MÁU KHÍ QUẢN TRÊN SIÊU ÂM THANG XÁM VÀ DOPPLER MÀU

Dấu hiệu bình thường trên mặt cắt ba mạch máu khí quản

Trên mặt cắt 3VT, cung động mạch chủ và cung ống động mạch hợp nhất với nhau vào động mạch chủ xuống với một góc nhọn giữa chúng (Hình 9.1 đến 9.3). Cả hai cung đều nằm bên trái cột sống và khí quản, đây một mốc giải phẫu quan trọng vì không có mạch máu nào ở bên phải khí quản trong giải phẫu tim mạch bình thường. Khí quản nằm ngay trước cốt ống là một cấu trúc hình tròn với thành có hồi âm và một lỗ đen (Hình 9.2).

SVC thấy ở mặt cắt ngang và nằm bên phải cung động mạch chủ (Hình 9.2). Ba mạch máu có hướng nghiêng với cung ống động mạch lớn nhất chiếm vị trí phía trước; cung động mạch chủ nhỏ hơn một chút nằm ở giữa; và SVC nhỏ nhất ở vị trí thấp hơn (Hình 9.2). Hình 5.17 trong Chương 5 cho thấy mối quan hệ của cung động mạch chủ và cung ống động mạch ở mẫu phẫu tích, trong đó SVC đã được loại bỏ.

Doppler màu thể hiện dòng chảy từ trước ra sau ở cả cung ống động mạch và cung động mạch chủ (7) (Hình 9.3). Giảm thang tốc độ màu sẽ thấy dòng máu trong SVC và cung azygos đổ vào SVC (Hình 9.4A). Hạ thấp hơn nữa thang tốc độ màu và hướng đầu dò về phía đầu một chút có thể thấy các động mạch vú ở hai viền bên của tuyến ức (Hình 9,4B) gọi là hộp tuyến ức (13). Ở mặt phẳng hướng về sọ sẽ thể hiện dòng máu trong tĩnh mạch cánh tay đầu trái (LBCV) theo hướng từ trái sang phải (14) và luôn ngược hướng với dòng chảy động mạch chủ ở mặt phẳng hướng chân (xem Chương 10).

Dấu hiệu bất thường thường gặp trên mặt cắt ba mạch máu khí quản

Như đã trình bày trong các chương khác nhau của sách này, các bất thường tim liên quan với các mạch máu lớn thường biểu hiện bất thường trên mặt cắt 3VT. Tuy nhiên trong một số trường hợp, mặt cắt 3VT bất thường là bệnh lý hoặc rất gợi ý với một bất thường tim mạch cụ thể (9). Vì vậy mặt cắt 3VT bất thường có thể cung cấp gợi ý với một số nhóm bất thường nhất định và đòi hỏi phải xác nhận sau đó với kiểm tra toàn diện tim thai (9). Trong phần này, chúng tôi trình bày các bất thường thường gặp trên mặt cắt 3VT và thảo luận về mối liên quan khác nhau với các bất thường tim mạch nhất định. Để có danh sách đầy đủ hơn về mối liên hệ giữa bất thường trên mặt cắt 3VT và bệnh tim bẩm sinh, độc giả tham khảo các chương về bất thường tim trong sách này và các bài báo tổng hợp khác (5-9, 15).

Cung động mạch chủ hẹp hoặc không có

Cung động mạch chủ hẹp ở mặt cắt 3VT trên siêu âm thang xám gợi ý tắc nghẽn đường ra thất trái như hẹp eo động mạch chủ hoặc thiểu sản dạng hình ống của cung động mạch chủ (Hình 9.5). Doppler màu rất hữu ích trong những trường hợp này vì sự hiện diện của dòng chảy ngược trong cung động mạch chủ hẹp (Hình 9.6B) thường gặp ở teo động mạch chủ hoặc hẹp động mạch chủ nặng như là một phần của hội chứng thiểu sản tim trái hoặc hẹp động mạch chủ nghiêm trọng. Sự hiện diện của dòng chảy thuận chiều trên Doppler màu trong cung động mạch chủ hẹp thường thấy trong hẹp eo động mạch chủ (Hình 9.6A). Không có sự liên tục của cung động mạch chủ trên 2D gợi ý đứt đoạn cung động mạch chủ (Hình 9.5B) và trên Doppler màu sự hiện diện của dòng chảy thuận chiều trong đoạn gần và không có dòng chảy trong đoạn xa cung động mạch chủ xác nhận tình trạng này.

 

Động mạch phổi hẹp hoặc không có

Động mạch phổi hẹp hoặc không có trên mặt cắt 3VT thường thấy trong các bất thường tim liên quan với tắc nghẽn đường ra thất phải như hẹp hoặc teo động mạch phổi, thể hiện giảm dòng chảy thuận chiều hoặc tưới máu ngược trong động mạch phổi trên Doppler màu. Các bất thường tim thường liên quan với bất thường này trên mặt cắt 3VT bao gồm tứ chứng Fallot, bất thường Ebstein, teo động mạch phổi, một số trường hợp thất phải hai đường ra, và nhiều trường hợp bị teo van ba lá với thông liên thất (VSD). Trong các trường hợp hẹp động mạch phổi, Doppler màu thấy dòng chảy thuận chiều trong động mạch phổi hẹp khi so với động mạch chủ (Hình 9.7A). Trong các trường hợp teo động mạch phổi (có và không có VSD), siêu âm thang xám thể hiện động mạch phổi hẹp hoặc thậm chí không quan sát được và Doppler màu xác nhận chẩn đoán bằng sự hiện diện của dòng chảy ngược trong ống động mạch và động mạch phổi (Hình. 9.7B). Ở teo động mạch phổi với vách liên thất nguyên vẹn ống động mạch khá thẳng (xem Chương 24), trong khi ở teo động mạch phổi với VSD thì ống động mạch thường rất ngoằn ngoèo (xem Chương 25) hoặc thậm chí hoàn toàn không có.

Cung động mạch chủ ngang dãn

Cung động mạch chủ ngang dãn trên mặt cắt 3VT có thể thấy trong hẹp van động mạch chủ đơn độc với động mạch chủ dãn ra sau chỗ hẹp. Doppler màu xác nhận chẩn đoán với dòng chảy ngược hỗn loạn điển hình vận tốc cao.

Động mạch phổi dãn

Động mạch phổi dãn trên mặt cắt 3VT có thể thấy trong hẹp van động mạch phổi đơn độc với thân động mạch phổi dãn ra sau chỗ hẹp. Doppler màu thường thấy dòng chảy ngược hỗn loạn trong động mạch phổi (Hình 9.8B). Động mạch phổi dãn khổng lồ trên mặt cắt 3VT thường thấy trong tứ chứng Fallot với hội chứng không có van phổi (Hình 9.8A), Doppler màu hiển thị dòng máu tới và lui qua van phổi với hẹp và hở nặng. Hội chứng không có van phổi thường đi kèm với không có ống động mạch.

 

Một đại động mạch duy nhất có kích thước bình thường

SVC bình thường với một mạch máu lớn duy nhất có kích thước bình thường trên mặt cắt 3VT (Hình 9.9A) gợi ý rằng mạch máu lớn khác hiện diện nhưng không thấy. Thông thường mạch lớn duy nhất được thấy là động mạch chủ và ở phía sau là động mạch phổi không thấy. Các bất thường tim liên quan với một mạch máu lớn đơn độc có kích thước bình thường bao gồm chuyển vị đại động mạch (TGA) hoặc thất phải hai đường ra. Trong những trường hợp này động mạch chủ thường thấy cong lồi sang phải (16). Có thể xoay đầu dò để có mặt cắt trục dài và thể hiện trên 2D hoặc trên Doppler màu hướng song song của các mạch máu lớn.

Một đại động mạch duy nhất có kích thước lớn

Mặt cắt 3VT thể hiện một mạch máu lớn duy nhất có kích thước lớn gợi ý sự giãn nở bù do việc tăng tưới máu kết hợp với việc giảm tưới máu trong mạch máu lớn khác không được thể hiện. Mạch máu lớn duy nhất có kích thước lớn này có thể là cung động mạch chủ kèm động mạch phổi teo; động mạch phổi teo này chỉ có thể được xác định bằng Doppler màu với kích thước rất nhỏ, thường ngoằn ngoèo hoặc thậm chí không có. Mặt khác, mạch máu lớn duy nhất dãn cũng có thể là động mạch phổi với tắc nghẽn đường ra bên trái như trong hội chứng thiểu sản tim trái. Trong những trường hợp này, Doppler màu thể hiện dòng chảy ngược trong cung động mạch chủ. Với đứt đoạn cung động mạch chủ, động mạch phổi ít bị dãn hơn so với tắc nghẽn đường ra bên trái. Với thân chung động mạch, một mạch máu lớn duy nhất dãn được ghi nhận trên mặt cắt 3VT (Hình 9.9B).

Cung động mạch chủ ở bên phải khí quản

Hiện diện cung động mạch chủ phải khi hướng của cung động mạch chủ ở bên phải khí quản (Hình 9.10). Dấu hiệu này có thể đơn độc hoặc kết hợp với các bất thường tim khác. Cung động mạch chủ phải có thể thấy kết hợp với ống động mạch trái, vì thế hình thành chữ U (U-sign) với khí quản ở giữa (Hình 9.10). Sự xuất hiện của U-sign như vậy cũng có thể là dấu hiệu của cung động mạch chủ đôi (xem Chương 29 để biết chi tiết). Trong trường hợp hiếm, động mạch phổi và cung ống động mạch có thể ở bên phải của khí quản, tạo thành dấu hiệu chữ V (V-sign) bên phải trên mặt cắt 3VT. Trong tất cả các trường hợp cung động mạch chủ phải, Doppler màu tối quan trọng trong việc chỉ hướng và phân nhánh khác nhau của các mạch máu.

Một đại động mạch chạy ngoằn ngoèo

Một đại động mạch chạy ngoằn ngoèo ở mặt cắt 3VT thường thấy tại ống động mạch vào cuối thai kỳ, có dạng chữ S. Tình trạng này cũng có thể thấy ở tam cá nguyệt hai (Hình 9.11). Cung ống động mạch ngoằn ngoèo được coi là một biến thể bình thường không có ý nghĩa lâm sàng. Cung động mạch chủ chạy ngoằn ngoèo bất thường có thể thấy ở cung động mạch chủ cổ khi động mạch chủ chạy vào trung thất trên, cách xa hướng động mạch phổi.

 

Kết nối giữa hai đại động mạch

Nếu có sự kết nối giữa các đại động mạch ở mặt cắt 3VT thì cần xem xét sự hiện diện của cửa sổ phế chủ. Cửa sổ phế chủ là một tình trạng hiếm gặp, và có thể thấy trong tứ chứng Fallot hoặc các bất thương thân nón khác, hoặc như một phát hiện đơn độc.

Hiện diện bốn mạch máu

Mạch máu thứ tư hiện diện trên mặt cắt 3VT thường liên quan với tồn tại SVC trái với vị trí giải phẫu bên trái động mạch phổi (Hình 9.12) cùng mức trung thất như SVC phải. Cung động mạch chủ đôi cũng có thể thấy bốn mạch máu trên mặt cắt 3VT, nhưng nó thường được phát hiện bởi sự hiện diện của cung động mạch chủ phải.

Ba mạch máu nhưng không có tĩnh mạch chủ trên

Sự hiện diện của ba mạch máu nhưng không có SVC trên mặt cắt 3VT khi thấy tồn tại SVC trái và không có SVC phải. Do ba mạch máu thấy trên mặt cắt 3VT nên tình trạng này thường bị bỏ sót nếu người thực hiện không đánh giá cẩn thận sự sắp xếp của các mạch máu.

Tĩnh mạch chủ trên dãn

SVC dãn trên mặt cắt 3VT gợi ý có tăng lưu lượng trong mạch máu. Điều này xảy ra trong trường hợp đồng phân trái khi tĩnh mạch chủ dưới bị đứt đoạn và tĩnh mạch azygos dãn hồi lưu vào SVC. Sự hiện diện của kết nối tĩnh mạch phổi bất thường toàn phần (TAPVCs) loại trên tim dẫn đến tĩnh mạch cánh tay đầu (tĩnh mạch vô danh) dãn hồi lưu vào SVC. Ngoài ra, sự hiện diện của dị dạng động tĩnh mạch não hoặc phình tĩnh mạch Galen có thể dẫn đến tăng dẫn lưu tĩnh mạch vào SVC.

● ĐÁNH GIÁ TUYẾN ỨC VÀ TĨNH MẠCH CÁNH TAY ĐẦU TRÁI

Sự ra đời của mặt cắt ba mạch máu từ đầu những năm 1990 và mặt cắt ba mạch máu khí quản từ cuối những năm 1990 đã cho phép người khám siêu âm tập trung vào giải phẫu của trung thất trên bằng cách sử dụng siêu âm độ phân giải cao cùng với Doppler màu. Mặc dù chương này chủ yếu tập trung vào đánh giá động mạch chủ, động mạch phổi, SVC; các cấu trúc trung thất khác có thể được thể hiện rõ trên mặt cắt 3VT và các mặt cắt hướng về đầu và chân từ mặt cắt 3VT. Những cấu trúc này bao gồm thực quản phía sau khí quản, sự phân chia của khí quản thành hai phế quản, tĩnh mạch azygos kết nối vào SVC qua phế quản phải và được gọi là “cung tĩnh mạch azygos”, tuyến ức chiếm vùng trung thất trước (Hình 9.13 đến 9.16). Gần đây, người ta thấy rằng mặt cắt trục dài của tĩnh mạch vô danh hay LBCV được thể hiện lý tưởng ở mặt phẳng hướng đầu từ mặt cắt 3VT và phía sau tuyến ức (Hình 9.16B). Đánh giá các cấu trúc giải phẫu này trong trung thất cho phép đánh giá giải phẫu toàn diện, đặc biệt là mối liên quan với các bất thường tim.

 

Tuyến ức

Tuyến ức ở phần trước giữa của trung thất nằm giữa hai phổi và trước các mạch máu lớn (Hình 9.13 và 9.16A) (xem thêm Hình 5.1 và 5.5). Tuyến ức có hồi âm hơi kém hơn so với phổi xung quanh và có thể được thể hiện bằng cách sử dụng siêu âm độ phân giải cao. Ở những thai nhi bị dị tật tim và đặc biệt là có sự hiện diện của bất thường thân nón, tuyến ức không có hoặc thiểu sản làm tăng nghi ngờ của mất đoạn 22q11. Để thuận tiện cho việc đánh giá kích thước của tuyến ức, tỷ lệ tuyến ức-lồng ngực đã được đề xuất và được định nghĩa là tỷ số của đường kính trước sau tuyến ức với trung thất đo trên mặt cắt 3VT (Hình 9.15). Trong điều kiện bình thường, tỷ lệ này là không đổi trong suốt thai kỳ với giá trị 0,44 và nhỏ hơn 0,3 trong hầu hết các thai có mất đoạn 22q11 (20, 21) (Hình 9.14B). Điều quan tâm là tuyến ức nhỏ hơn cũng đã được báo cáo ở thai mắc trisomy 21 (Hình 9.14A), trisomy 18. Tuyến ức nhỏ cũng được thấy ở thai chậm tăng trưởng, trong ối vỡ non với viêm màng ối, và trong các tình trạng khác.

Tĩnh mạch cánh tay đầu trái

LBCV hay tĩnh mạch vô danh được hình thành do hợp lưu của tĩnh mạch cảnh và tĩnh mạch dưới đòn trái, băng qua trung thất phía trên các mạch lớn và hồi lưu vào SVC (xem thêm Chương 10). LBCV được hiển thị tốt nhất trong mặt phẳng nghiêng hơi về phía đầu từ mặt cắt 3VT. Hướng của LBCV dọc theo bờ trước của cung động mạch chủ và bờ sau của tuyến ức (Hình 9.16B) (14, 18). Trong một nghiên cứu gần đây về khoảng tham chiếu của đường kính LBCV ở thai nhi, LBCV dãn phản ánh lưu lượng máu tăng lên và có liên quan với TAPVC loại trên tim và sự hiện diện của phình tĩnh mạch Galen (14). Mặt phẳng ngang giải phẫu của LBCV có tiềm năng vì vậy dùng để phát hiện dạng TAPVC phổ biến nhất mà nó hiếm khi được phát hiện trước sinh. Mặt khác, không có LBCV thấy trong tất cả 63 trường hợp tồn tại SVC trái cùng với SVC phải (không có tĩnh mạch cầu nối) (14). Một biến thể không có ý nghĩa lâm sàng là LBCV chạy trong tuyến ức (Hình 9.17) (14). Một tình trạng bất thường thấy ở cung động mạch chủ bên phải hoặc trong một số bất thường thân nón khác là LBVC chạy dưới động mạch chủ và nó có thể ảnh hưởng đến việc phẫu thuật các bệnh này (24).

 

 

 

● KẾT LUẬN

Mặt cắt 3VT là một mặt phẳng thu được tương đối dễ trên siêu âm trong tam cá nguyệt thứ nhất, thứ hai và thứ ba thai kỳ. Hình ảnh siêu âm 2D của mặt cắt 3VT cung cấp thông tin đầy đủ để phát hiện các bất thường thân nón chính và việc bổ sung Doppler màu giúp tăng độ tin cậy trong chẩn đoán. Hầu hết các bất thường tim phụ thuộc ống động mạch đe dọa tính mạng có liên quan với mặt cắt 3VT bất thường. Một mặt phẳng hướng nhẹ về phía đầu từ 3VT cho phép thể hiện LBCV và khi nó dãn thì có thể gợi ý cho sự hiện diện của TAPVC loại trên tim.

ĐIỂM CHÍNH – Mặt cắt ba mạch máu khí quản và trung thất trên

  • Các mặt cắt ngang ngực trên đánh giá động mạch chủ lên và cung động mạch chủ, thân động mạch phổi, cung ống động mạch, SVC, các mạch máu và cấu trúc lân cận khác.
  • Từ mặt cắt năm buồng hướng từ dưới lên trên về phía đầu thu được mặt cắt ba mạch máu, mặt cắt cung ống động mạch, mặt cắt ba mạch máu khí quản, mặt cắt cung động mạch chủ ngang, mặt cắt tĩnh mạch cánh tay đầu.
  • Ở mặt cắt ngang ngực trên, ba mạch máu theo một đường nghiêng với cung ống động mạch lớn nhất và vị trí trước nhất, cung động mạch chủ hơi nhỏ hơn ở giữa, và SVC nhỏ nhất ở vị trí sau nhất.
  • Ở mặt cắt 3VT, dòng máu trên Doppler màu ở cả cung ống động mạch và cung động mạch chủ có cùng hướng từ trước ra sau.
  • Hẹp cung động mạch chủ trên mặt cắt 3VT gợi ý tắc nghẽn đường ra thất trái như trong hẹp eo động mạch chủ hoặc cung động mạch chủ thiểu sản dạng hình ống.
  • Sự hiện diện của dòng đảo ngược trong cung động mạch chủ hẹp trên mặt cắt 3VT thường gặp trong teo động mạch chủ hoặc hẹp động mạch chủ nặng như là một phần của hội chứng thiểu sản tim trái hoặc hẹp động mạch chủ nghiêm trọng. Sự hiện diện của dòng chảy thuận chiều trong cung động mạch chủ hẹp trên mặt cắt 3VT thường thấy trong hẹp eo động mạch chủ.
  • Động mạch phổi hẹp hoặc không có trên mặt cắt 3VT thường thấy ở các bất thường tim liên quan với tắc nghẽn đường ra thất phải như hẹp hoặc teo động mạch phổi.
  • Động mạch chủ hoặc động mạch phổi dãn trên mặt cắt 3VT có thể thấy trong hẹp van động mạch chủ hoặc hẹp van động mạch phổi đơn độc, tương ứng với dãn sau chỗ hẹp của mạch máu.
  • SVC bình thường kèm với một đại động mạch có kích thước bình thường trên mặt cắt 3VT gợi ý đại động mạch khác có mặt nhưng không thể hiện do nằm ở vị trí phía sau. Dấu hiệu này thường gặp trong chuyển vị đại động mạch.
  • Trong các bất thường thân nón, động mạch chủ là một mạch máu lớn có kích thước bình thường duy nhất trên mặt cắt 3VT và thường có hướng cong sang phải.
  • SVC bình thường kèm với một đại động mạch dãn lớn duy nhất trên mặt cắt 3VT gợi ý sự dãn bù do tăng lưu lượng máu trong mạch máu này, kết hợp với giảm lưu lượng máu trong đại động mạch khác không được thể hiện trên mặt cắt. Điều này thường liên quan với hẹp hoặc teo mạch máu không được thể hiện.
  • Hiện diện cung động mạch chủ bên phải khi hướng của cung động mạch chủ ở bên phải khí quản.
  • Hiện diện mạch máu thứ tư trên mặt cắt 3VT thường liên quan với tồn tại SVC trái với vị trí giải phẫu bên trái động mạch phổi.
  • SVC dãn trên mặt cắt 3VT gợi ý sự hiện diện của lưu lượng máu cao trong mạch máu này, xảy ra trong trường hợp đứt đoạn tĩnh mạch chủ dưới, TAPVCs loại trên tim, và một số tổn thương não.
  • Trong các bất thường tim thai đặc biệt khi có các bất thường thân nón, tuyến ức không có hoặc thiểu sản làm tăng nghi ngờ mất đoạn 22q11.
  • Tĩnh mạch cánh tay đầu trái hay tĩnh mạch vô danh được hình thành bởi sự hợp lưu của tĩnh mạch cảnh và tĩnh mạch dưới đòn trái, băng qua trung thất phía trên các mạch máu lớn và đổ vào SVC.
  • Tĩnh mạch cánh tay đầu trái dãn phản ánh lưu lượng máu tăng và liên quan với TAPVC loại trên tim và sự hiện diện của phình tĩnh mạch Galen trong não thai nhi.

Bản gốc:

  • A Practical Guide to Fetal Echocardiography: Normal and Abnormal Hearts, 3 edition, 2016, Alfred Abuhamad, Rabih Chaoui
  • Chapter 9 –  The Three-Vessel-Trachea View and Upper Mediastinum

Bản dịch:

Xem thêm:

SÁCH SIÊU ÂM TỔNG QUÁT PHẠM MINH THÔNG

Load More In Sách tiếng Việt

Check Also

ĐẶC ĐIỂM HÌNH ẢNH X QUANG VIÊM PHỔI DO CORONA VIRUS

Tổn thương X quang phổi phụ thuộc vào một số yếu tố liên quan người bệnh như tuổi và tình …